Báo cáo trường hợp bệnh thủy đậu xuất huyết lan tỏa trên bệnh nhân viêm da bàn tay bàn chân và tăng men gan chưa rõ nguyên nhân
(08:47 | 31/03/2015)
  - Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm do Herpesvirus varicellae gây ra, có khả năng lây thành dịch. Bệnh đặc trưng bằng mụn nước trên nền ban đỏ ở da và niêm mạc. Đa số diễn biến lành tính nhưng đôi khi có thể gây tử vong do biến chứng trầm trọng như viêm phổi, viêm não do thủy đậu, thủy đậu xuất huyết, hội chứng Reye…

I. TÓM TẮT

Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm do Herpesvirus varicellae gây ra, có khả năng lây thành dịch. Bệnh đặc trưng bằng mụn nước trên nền ban đỏ ở  da và niêm mạc. Đa số diễn biến lành tính nhưng đôi khi có thể gây tử vong do biến chứng trầm trọng như viêm phổi, viêm não do thủy đậu, thủy đậu xuất huyết, hội chứng Reye… Các biến chứng thường xảy ra trên bệnh nhân (BN) suy giảm miễn dịch, ung thư, tiểu đường, các bệnh lý khác đi kèm…

Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh thủy đậu xuất huyết trên BN viêm da bàn tay, bàn chân và tăng men gan chưa rõ nguyên nhân, điều trị tại Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa tháng 2 năm 2012.

II. MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH

Bệnh nhân nam, 17 tuổi, dân tộc: Hơ Rê. Địa chỉ: Làng Rêu, Ba Điền, Ba Tơ, Quảng Ngãi. Nhập viện ngày 6/2/2012. Dịch tễ bệnh vùng BN sinh sống là dịch tễ sốt rét và bệnh viêm da bàn tay, bàn chân và tăng men gan chưa rõ nguyên nhân. Bệnh hiện đang được nghiên cứu trong 3 tháng trước khi BN mắc bệnh, không có trường hợp nào mắc thủy đậu.

BN mệt, ăn uống ít, dày da lòng bàn tay, bàn chân nhiều tháng trước khi mắc bệnh lần này nhưng vẫn đi làm bình thường. Bảy ngày trước khi đến bệnh viện, BN thấy mệt mỏi nhiều kèm sốt nhẹ, chán ăn, xuất hiện bọng nước rải rác khắp toàn thân. BN được điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi ba ngày, bệnh không giảm và được chuyển đến Bệnh viện Phong Da liễu Trung ương Quy Hòa với chẩn đoán Viêm da bóng nước toàn thân.

BN đến bệnh viện chúng tôi trong tình trạng cấp cứu, mạch 110 chu kỳ/phút, nhiệt độ 39oC, huyết áp 120/80 mmHg, nhịp thở 30 chu kỳ/phút. Toàn trạng rất mệt, toàn thân đau nhức, không thể ngồi được, tiếp xúc kém, gọi hỏi không muốn trả lời.

Thương tổn da là bọng nước và bọng nước xuất huyết, mụn nước và bọng nước kích thước thay đổi từ 5-15mm, đơn độc trên nền da đỏ, dày đặc phân bố khắp toàn thân. Nikolsky âm tính. Một số bọng nước có lõm giữa màu thâm.

Bọng nước dập vỡ đóng vảy tiết vàng bẩn, phù nề, tiết dịch, hôi, tập trung ở mặt, quanh mắt, quanh mũi, quanh miệng, quanh tai làm BN không thể mở được mắt, thở qua mũi khó khăn, há miệng hạn chế. Thương tổn bọng nước dập vỡ để lại nhiều vết chợt to tại các vị trí tỳ đè ở tay, chân. Loét trợt môi, đau rát.

Da lòng bàn tay, bàn chân dày da, có nhiều bọng nước chắc, khó vỡ.

Khám tim nhanh đều, phổi thô, không rales, cơ quan nội tạng khác chưa biểu hiện gì bất thường.

Xét nghiệm công thức máu: BC: 18 x 10/L , BCĐNTT: 89%.

Sinh hóa máu: SGOT: 304, SGPT: 70U/L, Kali máu: 2,58mmol/L, Natri máu: 131,7mmol/L, Clo máu: 96,4 mmol/L.

Sinh hóa nước tiểu: bình thường.

Tế bào Tzanck: tìm thấy tế bào đa nhân khổng lồ, dịch bọng nước có nhiều hồng cầu, bạch cầu,  không có tế bào gai lệch hình.

HIV, HBsAg, AntiHCV, ANA: âm tính

Kết quả sinh thiết da: bọng nước ở thượng bì, trong bọng nước có nhiều BCĐNTT, xâm nhập viêm BCĐNTT quanh các huyết quản và trung bì nông.

III. CHẨN ĐOÁN

3.1. Chẩn đoán xác định

Thủy đậu xuất huyết lan tỏa trên BN viêm da bàn tay bàn chân và tăng men gan chưa rõ nguyên nhân.

3.2. Chẩn đoán phân biệt

Hội chứng Lyell; Bệnh da tự miễn có bọng nước; Nấm Penicillium, Hồng ban đa dạng.

IV. ĐIỀU TRỊ

- Thở oxy.

- Dịch truyền cân bằng nước điện giải theo điện giải đồ.

- Đạm truyền Morihepamin: nâng cao thể trạng và giải độc gan.

- Kháng virus uống:  Acyclovir 4 g/ngày.

- Kháng sinh: Oxacillin (Tiêm TM) phối hợp với Getzlox (Truyền TM).

- Hỗ trợ và điều trị triệu chứng: fortec, hemofolic, hydarax, seduxen.

- Chăm sóc da tích cực, vệ sinh răng miệng

- Khám chuyên khoa mắt và chăm sóc mắt theo chuyên khoa.

- Chăm sóc các hốc tự nhiên khác.

- Dinh dưỡng ăn cháo dinh dưỡng, sữa.

- Tập vận động đi lại chống teo cơ khi BN qua tình trạng nguy kịch.

V. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

Lâm sàng: BN hết sốt sau một ngày, khỏe, ăn uống được. Bọng nước xẹp, khô dần, bong vảy, lành sẹo. Sau 20 ngày điều trị BN khỏe, đi lại được, ăn uống được và da lành sẹo. Không có biến chứng gì xảy ra.

Cận lâm sàng sau 10 ngày điều trị: công thức máu: BC: 9,2 x 10/L , BCĐNTT: 87%.

Sinh hóa máu: SGOT: 97U/L, SGPT: 39U/L, Kali máu: 4,65mmol/L, Natri máu: 141,7mmol/L, Clo máu: 100,3 mmol/L.

Cận lâm sàng sau 20 ngày điều trị: công thức máu: BC: 6,5 x 10/L , BCĐNTT: 76%.

Sinh hóa máu: SGOT: 50U/L, SGPT: 15U/L, Kali máu: 3,09 mmol/L, Natri máu: 133,9 mmol/L, Clo máu:  102,2 mmol/L.

 

VI. BÀN LUẬN

5.1. Về chẩn đoán

Bệnh thủy đậu là bệnh truyền nhiễm lây chủ yếu qua đường hô hấp, từ những giọt nước bọt, một số ít do tiếp xúc với bọng nước. Bệnh xuất hiện mọi tuổi, thường gặp mùa thu đông, có khi rải rác quanh năm. Ủ bệnh từ 10 đến 21 ngày. Khởi phát sốt nhẹ, viêm hô hấp trên, phát ban sau 1 ngày thì xuất hiện bọng nước. Bọng nước, xẹp dần, thoái hóa, lõm giữa và thâm lại như hình miệng núi lửa. Một số BN khi điều trị bệnh lui dần, hết sốt, bọng nước xẹp, không xuất hiện thương tổn mới. BN trong lúc đang điều trị có thể sốt cao rầm rộ, bọng nước lan tỏa thêm và xuất hiện thêm bọng nước mới, bọng nước hóa mủ, bọng nước xuất huyết, có thể viêm phổi xuất hiện.

BN của chúng tôi có biểu hiện lâm sàng nặng khi nhập viện, sốt cao, tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng, bọng nước lan tỏa toàn thân, trợt da rỉ dịch, bọng nước xuất huyết. Bọng nước có tính chất đơn độc, có một số thoái hóa dạng miệng núi lửa là một trong triệu chứng điển hình của bệnh thủy đậu, khi có kết quả bạch cầu máu tăng, tỉ lệ BCĐNTT tăng. Dịch bọng nước có tế bào đa nhân khổng lồ. Chúng tôi chẩn đoán xác định đây là trường hợp bệnh thủy đậu nặng thể xuất huyết và loại trừ các chẩn đoán được nghĩ đến như hội chứng Lyell, bệnh da tự miễn có bọng nước, nấm penicillium.

BN có biểu hiện dày da lòng bàn tay, bàn chân, có men gan tăng, ở trong vùng dịch tễ đang được nghiên cứu. BN suy giảm miễn dịch ăn uống kém, thiếu năng lượng kéo dài, do tình trạng nhiễm độc nào đó.

5.2. Về điều trị

Chúng tôi đảm bảo quy trình điều trị, thở oxy, cân bằng nước điện giải theo điện giải đồ, nâng cao thể trạng và giải độc gan, kháng virus, kháng sinh. Điều trị triệu chứng tích cực, chăm sóc da, vệ sinh răng miệng, chăm sóc mắt và các hốc tự nhiên khác. Dinh dưỡng thích hợp. Tập vận động. BN hết sốt sau một ngày. Bọng nước xẹp, khô dần, bong vảy, lành sẹo. BN khỏe, ăn uống được. Không có biến chứng. Xét nghiệm  bạch cầu máu, điện giải máu trở về bình thường nhưng men gan giảm chậm. BN xuất viện trong tình trạng khỏe, lành da hoàn toàn, kết quả xét nghiệm về công thức máu, men gan và điện giải máu bình thường.

VII. KẾT LUẬN

Thủy đậu là bệnh thường gặp nhưng trường hợp bệnh nặng như thế này thì ít gặp. Đây là trường hợp bệnh thủy đậu đầu tiên tại vùng Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi kể từ tháng 10 năm 2011 đến nay. BN có bệnh đi kèm là bệnh viêm da bàn tay, bàn chân và tăng men gan chưa rõ nguyên nhân.

Chẩn đoán nhanh và điều trị kịp thời sau khi BN đến bệnh viện cho kết quả điều trị bệnh tốt. Đây là bài học kinh nghiệm chúng tôi muốn chia sẽ cùng đồng nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. John SC (2007).General dermatology.Varicella.p120-122.

2. Roberto Arenas (2001). Tropical dermatology. Varicella. p267-270.

3. Thomas P.Habif (2004). Clinical dermatology. Varicella. Chickenpox in the immunocompromised patient. p389-393.

                                                                                                                                                                             Nguyễn Thanh Tân                                                                                      

Nguyễn Thị Thời Loạn

Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa

Bài viết được trích trong Tạp chí da liễu số 7

Hình ảnh bệnh nhân

Hình 1. Bọng nước dập vỡ đóng vảy tiết vàng bẩn, phù nề, tiết dịch, hôi tập trung ở mặt, mắt, mũi, miệng, tai làm BN không thể mở được mắt, thở qua mũi khó khăn, há miệng hạn chế.

 

Hình 2. Bọng nước và bọng nước xuất huyết, to kích thước thay đổi từ 5-15 mm, đơn độc trên nền da đỏ, dày đặc phân bố khắp toàn thân.

 

 

Hình 3. Một số bọng nước có lõm giữa màu thâm đen giống như miệng núi lửa.

 

Hình 4. Thương tổn bọng nước dập vỡ để lại nhiều vết chợt to tại các vị trí tỳ đè ở tay, chân.


 

Hình 5. Bọng nước dày đặc ở hai chân, lòng bàn chân dày da và có thương tổn bọng nước, một số chỗ tỳ đè chợt da.

IMG_4397IMG_4396

 

Hình 6. Sau 10 ngày điều trị, vảy tiết bong để lại nền da lành sẹo, thương tổn còn ướt. Một số đóng vảy tiết.

Hình 7. Sau 10 ngày điều trị, bọng nước xẹp dần, vị trí vùng bụng.

IMG_4438

IMG_4440

 

Hình 8. Thương tổn bong vảy tiết để lại nền da sẹo sâu ở vùng lưng sau 10 ngày điều trị.

Hình 9. Bọng nước khô xẹp trên nền dày da lòng bàn chân.

IMG_4446

IMG_4445

 

Hình 10. Thương tổn bong vảy tiết để lại nền da sẹo sâu sau 20 ngày điều trị ở mặt.

Hình 11. Thương tổn lành hoàn toàn để lại sẹo sau 20 ngày điều trị ở bụng.

IMG_4483

IMG_4485

 

 

Hình 12. Thương tổn bong vảy tiết để lại nền da sẹo sâu sau 20 ngày điều trị ở vùng lưng.

Hình 13. Thương tổn lành hoàn toàn để lại sẹo sau 20 ngày điều trị ở lòng bàn tay.

IMG_4484

IMG_4488

 

                                         

 

 

 

 

 Thủy đậu, xuất huyết, vêm da

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)