Bệnh lậu ở da
(11:21 | 14/08/2013)
  - Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương với tổn thương là một vết trợt màu đỏ tươi khoảng 3cm, ranh giới rõ ràng, bề mặt có phủ một ít mủ màu trắng và được chẩn đoán là loét sinh dục.

TÓM TẮT

          Bệnh nhân nam, 22 tuổi, có tiền sử quan hệ miệng-sinh dục. Cách ngày vào viện 7 ngày, bệnh nhân xuất hiện một vết trợt ở thân dương vật, đã tự mua thuốc điều trị nhưng không đỡ. Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương với tổn thương là một vết trợt màu đỏ tươi khoảng 3cm, ranh giới rõ ràng, bề mặt có phủ một ít mủ màu trắng và được chẩn đoán là loét sinh dục. Các xét nghiệm đã làm: PCR herpes, PCR chlamydia, soi trực tiếp tìm H. Ducreyi, xoắn khuẩn giang mai, soi và nuôi cấy tìm lậu cầu. Kết quả: Đặc biệt chỉ tìm thấy vi khuẩn lậu tại vết trợt còn ở các vị trí niệu đạo, hầu họng, hậu môn thì không thấy. Các xét nghiệm khác đều cho kết quả âm tính. Bệnh nhân được điều trị bằng ceftriaxon 1g tiêm bắp liều duy nhất, sau 5 ngày tổn thương không đỡ, xét nghiệm vẫn thấy vi khuẩn lậu. Sau đó bệnh nhân được điều trị cefixim 200 mg/ngày x 7 ngày, tổn thương tiến triển tốt và khỏi bệnh. Lậu ở da là bệnh lý hiếm gặp, trường hợp này không đáp ứng với điều trị bằng ceftriaxon. Các tổn thương loét sinh dục nên được chỉ định thêm xét nghiệm tìm lậu cầu để tránh bỏ sót chẩn đoán.

Từ khóa: bệnh lậu, da, Bệnh viện Da liễu Trung ương.

1. Giới thiệu về vi khuẩn lậu và bệnh lậu

1.1. Vi khuẩn lậu     

          Vi khuẩn lậu, Neisseria gonorrhoeae, thuộc họ Neisseriaceae, giống Neisseria. Trong giống Neisseria, có loài gây bệnh, có loài hoại sinh, chúng khác biệt nhau về một số tính chất sinh vật hoá học (lên men đường glucose, không sinh hơi). Dựa vào tính chất này, người ta phân biệt vi khuẩn lậu với một số Neisseria hoại sinh khác.

          Trên tiêu bản lấy mủ từ bệnh nhân bị bệnh lậu và nhuộm Gram, vi khuẩn lậu là những cầu khuẩn, hình hạt cà phê, đứng thành đôi, hai mặt dẹt quay vào nhau, bắt mầu Gram (-), có kích thước 0,6 mm x 0,8 mm, khoảng cách giữa hai cầu khuẩn bằng 1/5 chiều rộng. Khi ở trong tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, vi khuẩn lậu là loại vi khuẩn độc chiếm tế bào (có nó thì không có loại vi khuẩn nào sống trong tế bào). Người ta có thể gặp một cặp, hai cặp, bốn cặp hoặc nhiều hơn nữa, có khi xếp lèn chặt trong lòng tế bào bạch cầu đa nhân trung tính. Vi khuẩn lậu không sinh nha bào, không có lông, không có tiêm mao (fibria), một số chủng có pili. Hình thể, tính chất bắt mầu, vị trí nằm trong lòng bạch cầu đa nhân trung tính của vi khuẩn lậu có giá trị lớn trong chẩn đoán xác định bệnh lậu khi kết hợp với tiền sử bệnh nhân và triệu chứng lâm sàng.        

Neissercombo

Trên tiêu bản nhuộm gram.

1.2. Bệnh lậu

Được Y văn thế giới mô tả từ năm 1550 trước Công nguyên. Đến thế kỉ thứ IV-V, Hippocrates cũng nói rất nhiều về bệnh Lậu. Ông gọi bệnh lậu cấp là “chứng đái són đau” (strangury) và hiểu rằng bệnh là kết quả “khoái lạc Thần Vệ Nữ” (the pleasures of Vernus). Đến thế kỉ thứ XIII được biết là bệnh lây truyền qua đường tình dục. Neisser mô tả vi khuẩn lậu và là căn nguyên gây nên bệnh lậu năm 1879. Năm 1882 được Leistikow và Loeffler nuôi cấy lần đầu tiên trên môi trường nhân tạo.

Bệnh lậu là bệnh lây truyền qua đường tình dục, do vi khuẩn lậu gây nên mầm bệnh có tên là: Neisseria gonorrhoeae

2. Tình hình bệnh lậu ngoài tiết niệu sinh dục

- Trên thế giới: theo nghiên cứu của Hunte năm 2010 tại Miami trên đối tượng đồng tính nam thấy tỉ lệ nhiễm vi khuẩn lậu ở trực tràng 13,4%. Một tác giả khác ở Úc cũng nghiên cứu trên đối tượng đồng tính nam thấy tỉ lệ nhiễm vi khuẩn lậu ở họng là 4,5%. Còn một số tác giả khác trên thế giới thông báo về bệnh lậu ở ngoài da chiếm tỉ lệ 1-3%.

- Trong nước: chưa có báo cáo nào.

Bệnh lậu nếu điều trị không đúng phác đồ vi khuẩn lậu sẽ vào máu và di chuyển theo đường máu gây nhiễm trùng máu, vi khuẩn di chuyển đến đâu có thể gây bệnh đó: đến khớp gây viêm khớp, viêm da và một số phủ tạng khác. Vi khuẩn lậu gây viêm niệu đạo, tinh hoàn, mào tinh hoàn, cổ tử cung, viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh... thì rất hay gặp, nhưng biến chứng ngoài tiết niệu sinh dục như: viêm khớp, nhiễm trùng máu, viêm da... thì rất hiếm gặp.

ANd9GcRX4kvFpt7vqwZv56CK0hjdG43Uzqbdt4p4zbpIALRY2S-kZMgHljx6PC79ANd9GcSeZM2CzCNMpunNMFH8LYOBiFoI6XullOkDZDYL2CRR_o6di14yTKhCyMw

D:\Anh Iphone 2012\217.JPG Chúng tôi xin giới thiệu một trường hợp bệnh lậu da lần đầu tiên được chẩn đoán xác định tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.

3. Bệnh sử

Bệnh nhân nam, 22 tuổi, hiện đang là sinh viên một trường cao đẳng tại Hà Nội. Ngoài giờ học bệnh nhân còn tham gia tiếp thị rượu mạnh ở một số nhà hàng tại Hà Nội. Lý do đi khám: có một vết trợt ở thân dương vật. Bị bệnh 7 ngày trước khi đi khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương.

           - Ban đầu bệnh nhân thấy nóng ở thân dương vật, ba ngày sau thấy có một vết trợt nhỏ sau dó vết trợt lan rộng hơn, bề mặt có phủ một ít mủ, dấm dứt, hơi đau, bệnh nhân tự mua thuốc điều trị bằng thuốc gì không rõ.

          - Tổn thương không đỡ càng lan rộng hơn, 7 ngày sau bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương, được chẩn đoán là loét sinh dục.

          - Tiền sử bản thân và gia đình khoẻ mạnh, quan hệ tình dục miệng-sinh dục. Chúng tôi khám miệng sáo: bình thường không có biểu hiện viêm.

D:\Anh Iphone 2012\218.JPG

3.1. Chẩn đoán sơ bộ

Đây là một loét sinh dục những bệnh có thể nghĩ đến và chỉ định một số những xét nghiệm:

     - Herpes, Chlamydia ==> PCR với Herpes, Chlamydia

     - Hạ cam                ====> Nhuộm Gram

          - Giang mai (Săng) ===>  RPR, TPHA

          - Hồng ban cố định nhiễm sắc 

                                      ==> Tế bào Tzanck, Sinh thiết

3.2. Các xét nghiệm cần làm

-                      Nhuộm soi tìm vi khuẩn.   

-                      Cấy tìm vi khuẩn tại vết trợt, niệu đạo, hậu môn, hầu họng.

-                      Xét nghiệm chẩn đoán giang mai: RPR, TPHA.

-                      PCR: HSV, Lậu, Chlamydia: tại vết trợt; niệu đạo, hậu môn, hầu họng.

-                      Sinh thiết tổn thương: hoại tử TB thượng bì, xâm nhập viêm của rất nhiều BC đơn nhân.

          Vết trợt lúc này chúng tôi vẫn không nghĩ đến do vi khuẩn lậu.

3.3. Kết quả các xét nghiệm

- Nuôi cấy: hậu môn: không thấy vi khuẩn lậu. 

- Nuôi cấy: dịch niệu đạo: không thấy vi khuẩn lậu.

- Nuôi cấy: dịch hầu họng: không thấy vi khuẩn lậu.

- PCR: hậu môn, niệu đạo, hầu họng (âm tính với vi khuẩn lậu).

- PCR: HSV, Chlamydia: Âm tính.

- Giải phẫu bệnh: Viêm da không đặc hiệu.

 - RPR, TPHA: Âm tính.

3.4. Kết quả tại vết trợt

- Nhuộm soi trực tiếp: có song cầu hình hạt cà phê bắt mầu Gram âm, nằm trong bạch cầu đa nhân trung tính nhưng số lượng vi khuẩn ít. Số lượng bạch cầu > 10/VT.

- Nuôi cấy: bệnh phẩm lấy từ vết trợt nuôi cấy trên môi trường Socholate có khuẩn lạc của vi khuẩn lậu. Khuẩn lạc điển hình (khuẩn lạc có đường kính 0,5-1mm, tròn, bờ khuẩn lạc đều, nhầy và có mầu hơi xám). Thử tính chất sinh vật hóa học:

          Test Oxidase(+). Test lên men đường: dương tính.

D:\Anh Iphone 2012\224.JPG

Test lên men đường: dương tính

- Kháng sinh đồ: nhạy cảm với ceftriaxone, spectinomycin, cefixime.

-                 PCR: vết trợt, khuẩn lạc nuôi cấy (dương tính với vi khuẩn lậu).

 1          2                    3         4         5        6          7         8          9        10

C:\Users\Le Van Hung\Desktop\111.jpg

Kết quả PCR với lậu của bệnh nhân

Giếng 1, 10: Thang ADN

                    Giếng 9: chứng dương - Giếng  8, 5, 2: chứng âm

                    Giếng 8: KQ ở hầu họng  -  Giếng 7: KQ ở hậu môn

                    Giếng 6: KQ ở niệu đạo

                   Giếng 4: KQ ở khuẩn lạc nuôi cấy- Giếng 3: KQ ở vết trợt

4. Chẩn đoán xác định

- Nhuộm soi dịch: có song cầu Gr(-) nằm trong bạch cầu.

- Nuôi cấy: khuẩn lạc điển hình nghĩ đến vi khuẩn lậu, thử các test sinh vật hóa học (dương tính với vi khuẩn lậu).

- PCR: bệnh phẩm lấy từ vết loét dương tính: vi khuẩn lậu.

5. Chẩn đoán phân biệt

      - Bệnh Herpes

      - Bệnh hạ cam: do trực khuẩn H. Ducreyi.

      - Bệnh hồng ban cố định nhiễm sắc.

      - Bệnh giang mai.

6. Điều trị

  Theo những kháng sinh đang được khuyến cáo như: Spectinomycin; Ceftriaxone; Cefixime.

7. Khuyến cáo

    Bệnh cần phải được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời vì khả năng lây lan cao hơn bệnh lậu khu trú ở niệu đạo. Nhạy cảm với kháng sinh không tốt nên phải điều trị theo kháng sinh đồ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Covaro, A.A.,(1964),"Gonorrhoea in the Skin". Br Med J. 1(5388): p. 923-4.

2.       Kvorning, S.A.,(1963),"Acute Skin Eruptions in Generalized Gonorrhoea". Dan Med Bull. 10: p. 188-90.

3.       O'Sullivan, E.P.,(1964),"Gonorrhoea in the Skin". Br Med J. 1(5396): p. 1508.

4.       Sveen, K. and J.A. Maeland,(1982),"Induction of leukochemotaxis, primary skin inflammation and local Shwartzman reaction by Neisseria gonorrhoeae extract". Acta Pathol Microbiol Immunol Scand B. 90(1): p. 1-5.

5.       Wolff, C.B., H.V. Goodman, and J. Vahrman,(1970),"Gonorrhoea with skin and joint manifestations". Br Med J. 2(5704): p. 271-3.

6.       Zairi, A., F. Tangy, M. Ducos-Galand, J.M. Alonso, et al.,(2007),"Susceptibility of Neisseria gonorrhoeae to antimicrobial peptides from amphibian skin, dermaseptin, and derivatives". Diagn Microbiol Infect Dis. 57(3): p. 319-24.

 

Gonorrhea in the skin

SUMMARY

A patient, 22-year-old man, with a history of oral-genital sexual contacts had a peeled-off lesion on the body of the penis 7 days before hospital examination. He’s been self-treated but no improvement has been seen. Patient visited at the National Hospital for Dermatology and Venereology with the injury of the 3-cm scarlet peeled-off lesion, clear boundaries. The lesion surface was covered with a little white pus and he was diagnosed of genital ulcers. He was tested for herpes PCR, chlamydia PCR, direct microscopy for H. ducreyi, T. pallidum, and culture for gonorrhea. Results: N. gonorrhoeae has been seen in the penis lesion and not in the urethra, throat, anus. Other tests were negative. Patient has been treated with Ceftriaxone 1g-single intramuscular dose for 5 days but there was no change in the lesion, N. gonorrhoeae was still seen. Then patient was treated with cefixime at 200 mg/day for 7 days. Lesion progressed well and cured. Gonorrhea in the skin is rare. This case did not respond to the treatment of ceftriaxone. Genital ulcer lesions should be assigned additional tests for gonorrhea in order to avoid missing the diagnosis.

Keyword: Gonorrhoea, Skin, National Hospital for Dermatology and Venereology.

Lê Văn Hưng*

                                                                        * Bộ môn Da liễu trường đại học Y Hà Nội
Tạp chí  Da liễu số 7

 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)