Bệnh tim bẩm sinh: phòng hơn chữa
(07:33 | 17/03/2015)
  - Tim bẩm sinh là một trong những dị tật hay gặp nhất trong các dị tật bẩm sinh. Theo ước tính, cứ 100 trẻ ra đời thì có 8 - 10 trẻ bị mắc dị tật tim bẩm sinh. Tuy nhiên, đây là căn bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu biết cách.

 Dị tật tim bẩm sinh có hai loại: tim bẩm sinh có tím, còn gọi là tim bẩm sinh tím sớm và tim bẩm sinh không tím, còn gọi là tim bẩm sinh tím muộn.

Phát hiện sớm bệnh tim bẩm sinh bằng cách nào?

-          - Dựa trên triệu chứng

Đối với những trẻ bị tim bẩm sinh không tím thường có biểu hiện của chứng suy tim ứ huyết như: chậm tăng cân, bú kém (trẻ thường vã mồ hôi khi ăn, bú hơi ngắn và phải nghỉ giữa chừng để thở), thở nhanh, bị mắc tái phát các đợt nhiễm trùng hô hấp, đáp ứng chậm với điều trị.

Các triệu chứng nêu trên có thể không biểu hiện ngay lúc trẻ mới sinh nhưng sẽ dần xuất hiện trong thời gian ngắn từ vài tuần đến vài tháng sau đó khi sức cản hệ mạch phổi dần giảm xuống.

Ảnh minh họa

Qua chẩn đoán

Chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng.

Khám lâm sàng có thể phát hiện tiếng thổi tại tim.  Tuy nhiên vẫn có những trường hợp trẻ có tiếng thổi cơ năng tại tim nhưng cấu trúc và chức năng tim hoàn toàn bình thường. Ngược lại có những trẻ nghe tim hầu như không thấy dấu hiệu bất thường nhưng lại phát hiện ra dị tật tim bẩm sinh khi làm các thăm dò cận lâm sàng.

Bắt mạch và so sánh mạch đùi và mạch cánh tay cùng lúc là thao tác khám đơn giản nhưng lại mang lại nhiều thông tin. Mạch đùi có thể yếu hoặc không bắt được khi so với mạch cánh tay trong trường hợp trẻ nghi ngờ có hẹp eo động mạch chủ.

Siêu âm Doppler tim được coi là phương pháp cận lâm sàng có giá trị nhất trong chẩn đoán sớm các dị tật tim bẩm sinh, vừa đảm bảo tính không xâm lấn, không gây hại cho trẻ và có thể thực hiện lặp lại nhiều lần phục vụ cho theo dõi tiến triển bệnh và định hướng điều trị.

Phòng bệnh tim bẩm sinh cho con khi mang thai

Những bà mẹ có nguy cơ cao sinh con mắc tim bẩm sinh bao gồm: Mẹ bị mắc đái tháo đường, tiền sử gia đình mắc tim bẩm sinh hoặc sử dụng các thuốc có thể gây dị tật tim bẩm sinh ở con như Indomethacin, thalidomide.

Ngoài ra, nếu trong 3 tháng đầu thai kỳ mẹ bị mắc cúm hoặc rubella, thì khả năng sinh con bị dị tật còn ống động mạch hoặc hẹp phổi cao hơn so với mẹ không bị mắc các chứng bệnh nêu trên. Vì vậy, đối với phụ nữ có kế hoạch sinh con nên được tư vấn tiêm phòng đầy đủ cúm và rubella ít nhất 3 tháng trước khi có thai.

Điều trị tốt các bệnh lý mãn tính có từ trước khi mang thai, thận trọng với các thuốc và thực phẩm sử dụng trong quá trình mang thai. Nên được tư vấn và sàng lọc di truyền trước khi mang thai trong trường hợp tiền sử gia đình mắc bệnh tim bẩm sinh.

Chăm sóc trẻ tại nhà

Chậm tăng cân là vấn đề hay gặp nhất ở các trẻ bị dị tật bẩm sinh không tím. Chậm tăng cân là do trẻ phải tiêu thụ nhiều calo hơn so với trẻ không bị bệnh tim. Ngoài ra, trẻ ăn kém và hay bị các đợt nhiễm trùng hô hấp tái phát cũng là nguyên nhân gây cản trở đến quá tình tăng cân của trẻ.

Để giải quyết vấn đề này, bà mẹ và gia đình cần:

-  Đảm bảo cho trẻ dinh dưỡng đầy đủ tốt nhất là sữa mẹ hoặc phối hợp với các loại sữa công thức giàu năng lượng, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày đảm vảo nhu cầu năng lượng 140 – 200 kcal/kg/ngày.

- Lên lịch định kỳ cho trẻ tới khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để được đánh giá về vấn đề suy tim và các vấn đề khác nếu có.

- Cho trẻ tiêm chủng đầy đủ các mũi theo lịch: vari-cella, sởi, quai bị, rubella tiêm khi trẻ 12 tháng, phế cầu khi trẻ 2 tuổi, tiêm cúm hàng năm kể từ khi trẻ trên 6 tháng tuổi.

- Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cho trẻ bằng cách giữ gìn vệ sinh thân thể, giữ ấm và dùng kháng sinh cho các thủ thuật được chỉ định theo tư vấn của nhân viên y tế.

Khi nào trẻ cần phẫu thuật

Trẻ bị tim bẩm sinh nếu được phẫu thuật can thiệp triệt để nhóm bệnh này thường khỏi hoàn toàn. Sau thời gian theo dõi sau phẫu thuật, trẻ sẽ trở về cuộc sống bình thường như mọi trẻ khác.

- Trường hợp không cần phẫu thuật là: hẹp van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, bít rò động mạch vành,… cần thăm khám thường xuyên và tuân thủ hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa.

Ngoài ra, gia đình cần lưu ý là trong nhóm bệnh tim bẩm sinh có một tỉ lệ trẻ măc bệnh có thể tự khỏi không cần điều trị. Ví dụ: Thông liên thất lỗ nhỏ có khả năng tự đóng đến 75% trong năm đầu tiên cho đến khi trẻ 10 tuổi (theo nghiên cứu của Clevenlan Clinic, USA). Chính vì vậy rất cần thiết cho sự tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa trước khi quyết định phương hướng điều trị cho trẻ.

- Trường hợp phẫu thuật: Có hai phương pháp điều trị được áp dung là: can thiệp nội soi và phẫu thuật. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào đặc điểm hình thái dị tật tim và khả năng chuyên môn của các trung tâm tim mạch.

Các trường hợp dị tật bẩm sinh là lỗ thông có đặc điểm không phù hợp để bít nội soi bằng công cụ sẽ được tiến hành phẫu thuật vá lỗ thông. Tuy nhiên, nếu trẻ không có biểu hiện triệu chứng hoặc triệu chứng có thể kiểm soát bằng dùng thuốc thì thời điểm phẫu thuật có thể trì hoãn đến khi trẻ được 1-2 tuổi. Những trường hợp trẻ có lỗ thông lớn, có biểu hiện tăng huyết áp động mạch phổi nặng, không kiểm soát được bằng điều trị nội khoa, thời điểm phẫu thuật nên thực hiện càng sớm càng tốt trong khoảng 3-6 tháng tuổi.

Các trường hợp tổn thương tắc nghẽn như hẹp chủ, hẹp phổi không phải tại van, phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn.

TS.BS. Nguyễn Lân Hiếu

Bộ môn Tim mạch, Trường ĐH Y Hà Nội

(TTVN số 01)

 Bệnh tim, dị tật, tim bẩm sinh, 

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
5 bước bảo vệ tim (03/03/2015)