Bệnh tim mạch đồng mắc với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(09:46 | 26/05/2015)
  - Nghiên cứu: Bệnh tim mạch đồng mắc với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính – Bệnh viện Bạch Mai

Những điểm giống và khác nhau giữa hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Làm gì khi nhà có người bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

Các yếu tố nguy cơ thường gặp ở bệnh tim mạch

Một số tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị các bệnh tim mạch

TÓM TẮT

Đăt vấn đề: Tỷ lệ bệnh tim mạch ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn so với nhóm chung, có thể do có cùng yếu tố nguy cơ nhưng cũng có thể là yếu tố độc lập.

Mục tiêu: Nghiên cứu một số bệnh tim mạch đồng mắc với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định.

Đối tượng: 164 bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - Bệnh viện Bạch Mai.

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả chùm ca bệnh.

Kết quả: Trong 164 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có 43,3% tăng huyết áp, 26,2% biến chứng tâm phế mạn, 40,8% rối loạn nhịp tim (35,2% nhịp nhanh xoang, 7,7% ngoại tâm thu, 0,6% rung nhĩ, 2,8% bloc nhánh phải).

Kết luận: Bác sĩ lâm sàng cần lưu ý phát hiện và điều trị bệnh lý tim mạch đồng mắc với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Từ khóa: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim mạch đồng mắc.

 

bệnh phổi tắc nghẽn mạch

Ảnh chỉ mang tính minh họa

I.   ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD – Chronic Obtructive Pulmonary Disease) là một bệnh rất thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tàn phế và tử vong trên thế giới. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được định nghĩa là một bệnh “có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, thường tiến triển dần dần và kết hợp với phản ứng viêm bất thường của các phế quản đối với các hạt hoặc khí độc” [1]. Theo số liệu mới của WHO năm 2007, trên toàn thế giới có khoảng 210 triệu người mắc bệnh. Tại Mỹ, số người mắc COPD chiếm tới 5% dân số, số mới mắc COPD hàng năm lên khoảng 700.000 người. Tại Việt Nam, số BN COPD chiếm 25,1% số bệnh nhân nằm tại Khoa Hô hấp và chiếm tới 32,6% nguyên nhân tử vong tại Khoa Hồi sức cấp cứu [2].

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh lý phức tạp không chỉ gây ảnh hưởng chủ yếu ở phổi mà nó còn là nguyên nhân của các biểu hiện toàn thân khác, trong đó có bệnh tim mạch. Các bệnh lý này làm nặng thêm các triệu chứng của bệnh, là một trong những nguyên nhân khởi phát đợt cấp, tăng tỷ lệ tử vong cũng như tỷ lệ nhập viện của BN COPD.

Những nghiên cứu về COPD ở Việt Nam có khá nhiều song còn ít đề tài đề cập đến các biểu hiện toàn thân của COPD. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu một số bệnh tim mạch đồng mắc với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn và mạn tính - Bệnh viện Bạch Mai.

II.    ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.  Đối tượng nghiên cứu

164 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị ngoại trú tại đơn vị quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3/2011 đến 6/2013.

Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân được chẩn đoán COPD dựa vào các tiêu chuẩn:

- Đo chức năng hô hấp có rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau test hồi phục phế quản (FEV1/FVC < 70% hoặc FEV1/VC < 70%).

- Đã được chụp X-quang tim phổi quy ước, được làm các xét nghiệm cơ bản như công thức máu, sinh hóa máu: chức năng gan thận, đường máu, bilan lipid máu, canxi máu, điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực...

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân bỏ tham gia chương trình (số lần tái khám < 2 lần).

- Các bệnh nhân không cung cấp đủ dữ liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và mô tả cắt ngang.

2.2. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích, không tính cỡ mẫu.

2.3. Thu thập số liệu: mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, thông tin trích từ hồ sơ bệnh án.

2.4. Xử lý và phân tích số liệu: phầm mềm SPSS 16.0

III.  KẾT QUẢ

1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 66,3±8,6, thấp nhất là 43 tuổi, cao nhất là 88 tuổi. Nhóm tuổi  từ 60-69 chiếm tỷ lệ nhiều nhất 41,5%.

Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là ≈ 11,6/1.

117 bệnh nhân COPD có tiền sử hoặc hiện tại hút thuốc lá, thuốc lào chiếm 87,3%. Số bao/năm trung bình là 22,4±14,3.

Phân loại COPD theo chức năng hô hấp: giai đoạn 1 tỷ lệ thấp nhất là 2,4%, giai đoạn 2 là 25%, giai đoạn 3 (33,6%) và cao nhất là giai đoạn 4 với 39%.

2. Bệnh lý tim mạch đồng mắc

Trong 164 bệnh nhân COPD chúng tôi nghiên cứu có 43,3% bệnh nhân bị THA, 26,2% bệnh nhân có biến chứng tâm phế mạn.

142/164 bệnh nhân được làm điện tâm đồ. Số bệnh nhân có biểu hiện rối loạn nhịp tim chiếm 40,8%. Trong đó 35,2% bệnh nhân có rối loạn nhịp nhanh xoang, 7,7% có biểu hiện ngoại tâm thu. Tỷ lệ bệnh nhân có dày nhĩ phải là 38%, chỉ có 2,8% có biểu hiện bloc nhánh phải.

Tỷ lệ bệnh nhân bị tai biến mạch máu não 1,8%, suy vành 3,1%, suy tim toàn bộ 3,1%.

IV. BÀN LUẬN

1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới

Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 66,3±8,6, trong đó bệnh nhân thấp tuổi nhất là 43 tuổi, cao nhất là 88 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân chiếm nhiều nhất ở khoảng tuổi 60-69 tuổi là 41,5%. Nghiên cứu bao gồm 151 bệnh nhân là nam chiếm 92,1% và 13 bệnh nhân là nữ chiếm 7,9%. Theo ý kiến của nhiều tác giả trong và ngoài nước, COPD thường là hậu quả của nhiều bệnh phổi mạn tính khác nhau đặc trưng bởi sự hạn chế lưu thông đường khí thở tiến triển từ từ và có liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi-phế quản đối với các khí hay phân tử độc hại, trong đó hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu. Việc tiếp xúc với khói thuốc lá trong thời gian hàng chục năm thậm chí nhiều chục năm, khí độc hại và tình trạng viêm nhiễm mạn tính đã dần dần biến bệnh nhân thành người bị COPD điển hình. Với đặc trưng của bệnh như vậy, nên điều dễ thấy là mặc dù bệnh nhân có thể có một trong số các biểu hiện của COPD từ khi tuổi đời mới chưa cao nhưng bệnh tiến triển âm thầm và kéo dài cho tới khi bệnh nặng bệnh nhân mới nhập viện làm cho bệnh nhân càng cao tuổi càng nhiều hơn. Mặt khác theo thời gian khả năng đề kháng với các bệnh tật của con người ngày càng giảm sút, cơ thể tích lũy ngày càng nhiều yếu tố độc hại và chính lý do đó làm cho tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi đời là điều đương nhiên.

1.2. Phân bố bệnh nhân theo thói quen hút thuốc lá, thuốc lào

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 87,3% bệnh nhân hút thuốc lá, thuốc lào với số bao - năm trung bình là 22,4±14,3. Điều này phản ánh đúng dịch tễ học của COPD. Thuốc lá từ lâu đã được thừa nhận là yếu tố nguy cơ hàng đầu với COPD. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ học đã nhận thấy 80-90% bệnh nhân COPD là do thuốc lá và do vậy nó còn có tên gọi là bệnh phổi của những người hút thuốc [3]. Theo kết quả nghiên cứu của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ, có 15-20% số người hút thuốc lá có biểu hiện lâm sàng của COPD. Nghiên cứu trên các công nhân của 4 nhà máy ở Hà Nội, Chu Thị Hạnh và CS (2006) cho biết số bệnh nhân có hút thuốc lá với số lượng 15 bao/năm thì nguy cơ mắc COPD cao gấp 6,7 lần so với những người hút thuốc < 15 bao/năm và người không hút thuốc [4]. Tác động của thuốc lá tới COPD phụ thuộc nhiều yếu tố. Người ta thấy tuổi hút thuốc càng trẻ, số lượng thuốc hút càng nhiều, giới nữ đều góp phần làm nặng tình trạng của bệnh. Điều này không chỉ làm gia tăng tần suất mắc bệnh còn làm tiên lượng bệnh xấu đi, tỷ lệ tử vong cao.

1.3. Phân bố bệnh nhân theo giai đoạn COPD

Tỷ lệ BN mắc COPD ở giai đoạn 4 là cao nhất (39%), tiếp theo là giai đoạn 3 (33,6%); giai đoạn 2 là 25%, giai đoạn 1 tỷ lệ thấp nhất là 2,4%. Như vậy, hầu hết bệnh nhân COPD đều nhập viện khi bệnh ở giai đoạn muộn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu (2004) [5]. Theo các tác giả này, các BN COPD nhập viện ở giai đoạn IIb chiếm 51,9%; giai đoạn III chiếm 38,5%, không bệnh nhân nào ở giai đoạn I. Việc tầm quan trọng bằng theo dõi chức năng hô hấp đối với nhóm nguy cơ cao của COPD nhằm phát hiện sớm bệnh là quan trọng.

2. Bệnh lý tim mạch đồng mắc

2.1. Tăng huyết áp

Kết  quả nghiên cứu cho thấy tần suất bệnh tim mạch ở các bệnh nhân COPD khá cao và đa dạng. Trong 164 bệnh nhân mắc COPD chúng tôi nghiên cứu thì có 43,3% bệnh nhân bị THA. Theo Trần Hoàng Thành, THA ở bệnh nhân COPD là một bệnh khá thường gặp [6]. Theo nhóm tác giả Celli B và CS (2010), tăng huyết áp ở bệnh nhân COPD là bệnh hay gặp và do nhiều nguyên nhân, có thể là yếu tố độc lập [7]. Một nghiên cứu trên nhóm BN COPD bị suy hô hấp cấp cho thấy nồng độ carbonic trong máu tỷ lệ thuận với tăng huyết áp. Nghiên cứu này chứng minh huyết áp tâm thu cao hơn ở những bệnh nhân có tăng khí carbonic máu so với nhóm bệnh nhân có carbonic máu bình thường và thiếu oxy máu. Như vậy, tăng carbonic máu làm THA hơn là thiếu oxy máu và có thể là cơ chế gây tăng huyết áp ở những bệnh nhân này.

Có một vấn đề khác liên quan đến THA trong COPD, đó là hút thuốc lá. Như chúng ta đã biết hút thuốc lá gây xơ vữa thành mạch thông qua các rối loạn chuyển hóa lipid mà tỷ lệ hút thuốc lá ở bệnh nhân COPD rất cao, đồng thời thuốc lá là thủ phạm gây COPD. Như vậy, THA trong COPD cần được xem xét trong mối liên quan hữu cơ với nhiều yếu tố khác.

2.2. Rối loạn nhịp tim

Trong 142 bệnh nhân được làm điện tâm đồ (ĐTĐ), số bệnh nhân có biểu hiện rối loạn nhịp tim chiếm 40,8%. Trong đó, 35,2% bệnh nhân có rối loạn nhịp nhanh xoang; 7,7% có biểu hiện ngoại tâm thu; 0,6% bệnh nhân có rung nhĩ. Tỷ lệ bệnh nhân có dày nhĩ phải là 38%, chỉ có 2,8% có biểu hiện bloc nhánh phải. Theo chúng tôi, nhịp nhanh ở các BN COPD không hoàn toàn do rối loạn nhịp, mà có lẽ phần lớn có lý do của rối loạn thông khí mạn tính mà nhịp nhanh là hậu quả. Tuy nhiên dù bất cứ lý do nào thì đây cũng là một biểu hiện không tốt, về lâu dài có thể dẫn đến suy tim. Vì nhịp nhanh có thể tác động xấu tới sức khỏe của người bệnh nên theo chúng tôi tất cả BN COPD cần được đo điện tim kiểm tra định kỳ, nhằm phát hiện sớm một số bệnh lý tim mạch mà những bệnh nhân này hay gặp để có thể điều trị sớm. Theo các tác giả Celli B và CS (2010) cho biết có trên 84% BN COPD giai đoạn ổn định có ít nhất 1 RLNT phát hiện trên holter điện tim, trong khi đó ĐTĐ khi nghỉ chỉ phát hiện được khoảng 20% các trường hợp. Ở đợt cấp COPD, tần suất RLNT trên ĐTĐ tiêu chuẩn phát hiện được 31% trường hợp, trong khi holter điện tim phát hiện được 91% bệnh nhân có rối loạn nhịp tim [7]. Ghi holter điện tim liên tục trong 24h, cho phép phát hiện các RLNT xảy ra trên BN COPD bởi vì người ta thấy rằng RLNT thường xảy ban đêm nhiều hơn ban ngày. Tần suất RLNT thay đổi rất khác nhau tùy từng thời điểm, từng giai đoạn bệnh. Thông thường những rối loạn như nhịp nhanh trên thất, nhịp nhanh nhĩ, rung nhĩ, nhịp nhanh nhĩ nhiều ổ là những rối loạn nhịp tim thường gặp ở bệnh nhân suy hô hấp cấp, trong khi đó các rối loạn nhịp thất thường gặp ở bệnh nhân trong tình trạng lâm sàng ổn định. Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng COPD càng nặng thì tỷ lệ ĐTĐ bệnh lý càng cao, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn 3, 4 là chủ yếu 72,6%. Dày nhĩ phải và dày thất phải phần nào phản ánh tình trạng suy tim phải và là hậu quả tất yếu của COPD. Nhiều nghiên cứu và ngay trong các khuyến cáo của GOLD cũng cho rằng không nên coi COPD chỉ là bệnh của phổi mà phải coi là một bệnh toàn thân.

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân bị tai biến mạch máu não 1,8%; suy vành là 3,1%; suy tim toàn bộ chiếm 3,1%. Tỷ lệ bệnh nhân bị suy tim trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu khác. Theo các nghiên cứu nước ngoài, tỷ lệ suy tim là 20,5% ở BN COPD. Tỷ lệ mắc COPD ở bệnh nhân suy tim là 23,6% đến 39,2%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kèm suy tim làm tiên lượng của bệnh nhân xấu đi [9]. Tỷ lệ mắc bệnh mạch vành do xơ vữa ở những bệnh nhân COPD thay đổi nhiều tùy thuộc nghiên cứu dao động từ 15-25%, trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỷ lệ bệnh mạch vành do xơ vữa trên ĐTĐ thấp hơn rất nhiều.

I.      KẾT LUẬN

Trong 164 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có 43,3% tăng huyết áp, 26,2% tâm phế mạn, 40,8% rối loạn nhịp tim (35,2% nhịp nhanh xoang, 7,7% ngoại tâm thu, 0,6% rung nhĩ, 2,8% bloc nhánh phải).

Các thầy thuốc lâm sàng nên có cái nhìn toàn diện hơn về COPD, trong điều trị cho những bệnh nhân này, chúng ta phải dự phòng, chẩn đoán và điều trị sớm các bệnh lý tim mạch đồng mắc.

Chu Thị Hạnh*, Vũ Văn Giáp*, Dương Thị Hoài**

*Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai

**Đại học Y Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Global initiative for Chronic Obtructive Lung Disease (GOLD). Global strategy for the Diagnosis, Managment, and Prevention of Chronic Obtructive Pulmonary Disease (UPDATE 2009 )

2.  Ngô Quý Châu và CS (2002), Tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa hô hấp Bệnh viện Bạch Mai. Thông tin Y học lâm sàng, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Tr. 50 – 7.

3.  Lê Thị Tuyết Lan, Võ Minh Vinh (2004): Tần suất mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong các công nhân trồng và sơ chế cao su ở các tỉnh phía Nam. Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 8, phụ bản số 1, 100 – 105.

4.  Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu, Nguyễn Văn Tường (2006), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong công nhân một số nhà máy công nghiệp Hà Nội. Y học lâm sàng, số đặc san tập 2, 12/2006, 18 – 20.

5.  Chu Thị Hạnh, Ngô Quý Châu (2004), Nhận xét đặc điểm lâm sàng và sự biến đổi chức năng hô hấp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước và sau điều trị đợt cấp. Công trình NCKH Bệnh viện Bạch Mai 2003-2004, tập 1, 480 – 483.

6.  Trần Hoàng Thành (2006). Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nhà xuất bản Y học, Trang 11.

7.  Celli B, Decramer M, Leimer I, Vogel U, Kesten S, Tashkin DP (2010), “ Cardiovascular safety of tiotropium in patients with COPD” chest 137 (1): 20 – 30. Doi:10.1378/chest. 09-0011.

8.  Dương Quý Sỹ, Đinh Xuân Anh Tuấn, Jean-Paul Homasson, Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, sách chuyên đề Pháp Việt 3 tháng10-2012.  Tim và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, trang 107.

9.  Finkelstein J, Cha E, Scharf M (2009). Chronic obtructive pulmonary disease as an independent risk factor for cardiovascular morbidity. International Journal of COPD: 4 337 – 349.

 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác