Biến chứng mạch máu lớn ở bệnh nhân ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
(08:02 | 22/03/2014)
  - Các biến chứng mạch máu lớn ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) là một nguy cơ đe dọa đến an toàn của người bệnh.

ĐTĐ (đặc biệt là với ĐTĐ typ 2 không phụ thuộc insulin) góp phần làm tăng tình trạng vữa xơ động mạch; vữa xơ động mạch ở người bệnh ĐTĐ xảy ra sớm hơn so với những người không có bệnh ĐTĐ.

Người ta nhận thấy rằng nếu nguyên nhân tử vong ở người bị ĐTĐ typ 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin) là biến chứng vi mạch (biến chứng mạch máu nhỏ) gây suy thận thì nguyên nhân tử vong ở người bị ĐTĐ typ 2 là các biến chứng mạch máu lớn. Đó là:

Bệnh lý mạch vành trong đái tháo đường

Tần suất bệnh mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao hơn người không ĐTĐ tới 2-3 lần và do vậy tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành cũng cao hơn. Do tổn thương mạch vành ở bệnh nhân ĐTĐ thường rải rác hơn và ảnh hưởng nhiều đến các mạch máu nhỏ làm cho việc điều trị gặp khó khăn hơn nhất là vấn đề điều trị tạo hình (cầu nối, stent…). ở phụ nữ nếu bị ĐTĐ trước tuổi mãn kinh thì nguy cơ bị bệnh mạch vành cũng rất phổ biến. hai triệu chứng đặc hiệu của bệnh mạch cần quan tâm đó là:

- Cơn đau thắt ngực: giống như trong bệnh mạch vành nói chung cơn đau thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm…Tuy nhiên ở người bệnh ĐTĐ hay gặp thể thiếu máu cơ tim thầm lặng chỉ đến khi làm điện tâm đồ mới phát hiện được.

- Nhồi máu cơ tim: cũng thường gặp khi có bệnh mạch vành. Cần lưu ý một số trường hợp ở người bệnh bị nhồi máu cơ tim có thể có rối loạn dung nạp glucose làm cho nồng độ đường glucoseb tăng trong máu tạm thời. Cần chẩn đoán phân biệt với người bệnh bị ĐTĐ hoặc bệnh ĐTĐ được phát hiện tình cờ khi người bệnh bị nhồi máu cơ tim. Kết quả điều trị nhồi máu cơ tim ở người bị ĐTĐ thường hạn chế do nhiều yếu tố tác động:

+ Người bệnh có thể bị suy tim, truỵ mạch.

+ Dễ bị nhiễm toan chuyển hóa đồng thời với nhồi máu cơ tim. Việc bồi phụ nước, điện giải gặp khó khăn.

+ Sử dụng insulin cũng có trở ngại do có thể xuất hiện tình trạng suy thận chức năng.

Điều trị bệnh lý mạch vành: không có phương pháp nào dành riêng cho người ĐTĐ bị bệnh mạch vành; cũng như những người bị bệnh động mạch vành do các nguyên nhân khác cần được chụp động mạch vành để chẩn đoán xác định, điều trị kết hợp thuốc với các kỹ thuật tạo hình mạch máu bằng bóng, nong hay làm cầu nối…Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể do các chuyên gia tim mạch quyết định.

Với những người bị bệnh ĐTĐ thì biện pháp dự phòng cần thiết là:

- Kiểm soát chặt chẽ đường huyết…

- Điều trị một cách hệ thống các rối loạn lipid máu.

- Ngừng hút thuốc lá.

Tai biến mạch máu não (TBMMN)

TBMMN có thể xảy ra đột ngột, từ từ và nặng dần nhưng cũng có thể nhất thời. Hay gặp 3 dạng TBMMN do xơ vữa động mạch:

- Màng xơ vữa động mạch lớn làm tắc hẳn động mạch: người bệnh sẽ bị nhồi máu não (nhũn não). Vùng hoại tử không hồi phục được gây liệt nửa người. Đây là dạng hay gặp nhất.

- Mảng vữa xơ bị vỡ lan theo dòng máu lên não làm tắc một nhánh hay một động mạch não cũng gây nhồi máu não, hoại tử não là tắc một nhánh hay một động mạch não cũng gây nhồi máu, hoại tử não, gây liệt nửa người.

- Do cơ chế phức tạp gây vỡ mạch máu não. Máu trào ra ngoài động mạch phá huỷ các tế bào não gây xuất hiện xuất huyết não. Thể này ít gặp nhưng tiên lượng rất nặng.

Điều trị trong các trường hợp này ngoài những thuốc đặc hiệu cần có vai trò của insulin kết hợp căn cứ vào diễn biến nồng độ đường trong thời gian cấp cứu và theo dõi sát khi hồi phục.

Bệnh mạch máu ngoại biên

Bệnh mạch máu ngoại biên ở bệnh nhân ĐTĐ biểu hiện chủ yếu bằng viêm động mạch chi dưới. Cả hai giới nam và nữ đều bị bệnh như nhau- khác với những người không bị đái tháo đường thì viêm động mạch chi dưới ít gặp ở nữ hơn. Bệnh mạch máu ngoại biên thường dẫn đến tình trạng loét và hoại thư chân. Có tới hơn 20-25% người bệnh bị ĐTĐ phải nhập viện điều trị vì bệnh này và trong số đó có một tỷ lệ phải cắt đoạn chi do không hồi phục.

Triệu chứng: là biểu hiện của tình trạng viêm động mạch chi dưới do xơ vữa động mạch:

- Đau cách hồi.

- Đau chân ở tư thế nằm.

- Bàn chân, ngón chân tím đỏ lạnh.

- Teo các cơ liên đốt.

- Tiến đến hoại thư và tiên lượng xấu.

Các dạng hoại thư: 
Hoại thư ngọn chi khô: dạng này không có biểu hiện nhiễm khuẩn, giới hạn, thường thấy cso mảnh hoại thưu sẫm màu ở mặt dưới, ở quanh móng chân, ở một đốt hoặc các ngón chân. Điều trị chủ yếu bằng tháo đốt hay cắt đoạn ngón- tiên lượng còn tốt. Có khi ngọn hoại thư tự đứt rời không cần can thiệp.

Hoại thư khô hai hoặc nhiều ngón: thường có kèm theo viêm mô tế bào do nhiễm khuẩn ở mu hoặc gan bàn chân- tiên lượng nặng hơn. Điều trị bằng cách rạch rộng, tháo các ổ mủ, cắt lọc tổ chức hoại thư kết hợp với kháng sinh liều cao, đặc hiệu và không quên kiểm soát tốt bệnh ĐTĐ. Cần đề phòng nguy cơ tổn thương lan đến bao gân, dây chằng thậm chí cả bao hoạt dịch và xương.

Hoại thư ướt bề ngoài góc chân: có mảng hoại thư trung tâm, xung quanh là tổ chức viêm đỏ dễ lan nhanh xướng gan bàn chân- khó giữ được bàn chân nếu điều trị không kịp thời.

Loét và thiểu máu tại chỗ: là thể rất đặc biệt của bệnh ĐTĐ, có nhiều vị trí và hình dạng như loét rộng mặt trước ngoài cẳng chân, trên có phủ một màng mủ hoại thư, gân có thể lộ ra, khó lành; loét nằm ở gót chân hoặc mắt cá, đáy ổ loét không có mô hạt nên vết loét lâu lành và khó lành; người bệnh thường rất đau đớn, thể trạng suy sụp; loét có bờ không đều, mép ổ loét nham nhở do các dài hoại tử tím, teo cơ nhiều, tiên lượng rất xấu.

Điều trị: điều trị đối với bệnh mạch máu ngoại biên thường rất khó khăn do tính chất lan toả của các tổn thương.

Điều trị nội khoa: điều trị tốt bệnh ĐTĐ, bệnh tăng huyết áp (nếu có) điều trị rối loạn lipid máu. Điều trị các triệu chứng viêm động mạch bằng các thuốc chống đông, chống ngưng tập tiểu cầu, các thuốc giãn mạch...

Điều trị ngoại khoa:

- Điều trị phục hồi: làm cầu nối động mạch (với điều kiện động mạch phía trên không hẹp, động mạch phía dưới không tắc). Khó thực hiện phương pháp này đối với người bệnh bị ĐTĐ.

- Cắt đoạn đốt, ngón, tháo đốt, tháo khớp và nặng hơn có thể phải cắt đoạn chi.

Các biến chứng mạch máu lớn còn được gọi là bệnh của mạch máu lớn trong ĐTĐ, là một thể vữa xơ động mạch tiến triển nhanh. Tần suất nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, hoại thư chân vì vậy tăng cao ở bệnh nhân ĐTĐ. Những bất thường ở thành mạch, tiểu cầu cũng như thành phần khác của hệ thống đông máu, hồng cầu, chuyển hoá lipid đều cso vai trò nhất định trong cơ chế gây bệnh. Ngoài ra cần phải kể đến vai trò của hút thuốc lá, bệnh tăng huyết áp kèm theo.

Quản lý chặt chẽ bệnh nhân ĐTĐ ngoài việc điều trị cần hết sức lưu ý để ngăn ngừa các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

 

BSCK II. Nguyễn Thị Kim Loan

Nguyên Trưởng khoa Nội tiết, Bệnh viện E Hà Nội

(TTVN số 18)

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Đái tháo nhạt (23/05/2014)  
Vô kinh (19/05/2014)  
Axit uric (19/05/2014)