Các phương pháp điều trị ung thư
(09:30 | 29/05/2012)
(TTVN) -  -  Hy vọng những tiến bộ trong nghiên cứu này sẽ là kỳ vọng lớn cho điều trị ung thư.

        Dù chưa biết đích xác nguyên nhân sinh ung thư, con đường tiến triển tự nhiên của từng loại ung thư nhưng từ một thế kỷ nay việc điều trị ung thư đã có những tiến bộ đáng kể nhờ sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự hỗ trợ của các công nghệ mới gắn liền với những nghiên cứu cơ bản về ung thư như: tế bào tổ chức học, di truyền miễn dịch và các tiến bộ của vật lý, hóa học, xã hội… Hy vọng những tiến bộ trong nghiên cứu này sẽ là kỳ vọng lớn cho điều trị ung thư.

Thực tế điều trị ung thư là công việc thường khó khăn, đòi hỏi trang bị kĩ thuật và tay nghề cao, trải dài nhiều công đoạn. Vì vậy cần phải có sự cộng tác, trao đổi kinh nghiệm kiến thức để chọn cho bệnh nhân một phác đồ điều trị thích hợp, đủ mạnh và đủ an toàn cho sức chịu đựng của bệnh nhân. Có 4 phương pháp: phẫu thuật, tia xạ, hóa chất và miễn dịch và chia ra thành 2 dạng điều trị:

- Điều trị tại chỗ hoặc tại vùng: gồm phẫu thuật, tia xạ vào u và hạch vùng để lấy đi u nguyên phát kèm theo hạch còn khu trú. Làm tốt khâu này đã chữa được hàng chục loại ung thư, ví dụ ung thư da, cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, thần kinh… Điều trị tại chỗ vẫn cần thiết khi đã có di căn, nhưng không đủ, phải phối hợp với điều trị toàn thân.

- Điều trị toàn thân: gồm hóa chất, nội tiết, miễn dịch… nhằm mục đích chữa và phòng ngừa di căn đối với những loại ung thư ác tính cao, di căn rộng và sớm như ung thư vú, tinh hoàn, buồng trứng, dạ dày, xương… và chữa những ung thư của hệ thống tạo máu như bạch cầu cấp và mạn, ung thư hạch, Hodgkin, ung thư rau, các ung thư trên trẻ em…

1. Phương pháp điều trị

Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật

Đây là phương pháp cổ điển nhất và hiện nay vẫn còn rất được áp dụng nhất là ở nước nghèo. Từ cổ Hy Lạp người ta đã dùng thanh sắt nướng đỏ áp tại u để đốt chay ung thư, cho rằng “dùng dao kéo vào ung thư nó sẽ chạy khắp cơ thể… chóng chết hơn” không phải hoàn toàn vô lý. Mổ gọn, sạch, rộng rãi khối ung thư kèm theo các hạch di căn gọi là phẫu thuật triệt căn, có thể chữa khỏi hoàn toàn cho hàng chục loại ung thư (khoảng 1/3 các loại ung thư). Ngược lại khối ung thư sẽ làm tăng nguy cơ di căn xa nhanh và mạnh hơn nhất là những ung thư nốt ruồi đen, cấm không được nắn bóp, sinh thiết nhỏ vì rất dễ di căn. Ung thư vú đang viêm phải tia xạ hoặc hóa chất cho “nguội u” rồi mới phẫu thuật.

Nhờ tiến bộ về gây mê hồi sức nên các phẫu thuật viên mạnh dạn hơn, cắt bỏ được những ung thư lớn ở những phủ tạng quan trọng. Ví dụ: gan phổi, não… thậm chí ở Mỹ người ta có thể cắt ½ người dưới. Một số ung thư di căn vào gan, phổi, não còn gọn người ta cũng chỉ định mổ lấy bỏ cả ung thư lẫn ổ di căn để chữa triệt để.

Điều trị ung thư dạ dày bằng phương pháp phẫu thuật cắt dạ dày

(ảnh Internet)

Với một số ung thư vú, xương, phần mềm ở giai đoạn sớm, có xu hướng bảo tồn dùng phẫu thuật bóc sát lấy u hạch, phối hợp cùng tia xạ và hóa chất để chữa khỏi ung thư mà vẫn giữ được thẩm mỹ và chức năng vận động, tôn trọng sự toàn vẹn của cơ thể. Hoặc khi ung thư bị cắt bỏ triệt để, muốn phấn đấu đem sự thoải mái dễ chịu và vẻ đẹp cho người bệnh, người ta dùng phẫu thuật tạo hình, ghép da, ghép cơ quan… để thêm sự hoàn mỹ của điều trị.

Bên cạnh con dao, cái kéo thường dùng, người ta đưa những kĩ thuật mổ hiện đại vào: mổ trực tràng, thực quản bằng tia laser, điện đông (cryo chorurgie), dùng tia xạ trong mổ với những tạng sâu dính: tuy, u sau phúc mạc, ứng dụng các máy khâu nối đường tiêu hóa.

Ngoài ra phẫu thuật còn dùng để chẩn đoán đánh giá bệnh ung thư mở đường cho những điều trị phức tạp kéo dài như trong bệnh Hodgkin, ung thư hạch…phẫu thuật chống chảy máu ung thư, chống đau, chống bế tắc, chống loét bẩn… gọi là phẫu thuật tạm thời chữa triệu chứng, không chữa khỏi nhưng kéo dài được cuộc sống và đem lại sự thoải mái cho người bệnh.

Điều trị bằng phương pháp tia xạ

Từ khi Marie và Jolio Curie tìm ra Radi, Rowngen khám phá ra tia X, người ta đã nghĩ ngay tới điều trị ung thư bằng tia xạ. Ở Việt Nam, viện Radium (nay là Bệnh viện K) được xây dựng từ năm 1923.

Quang tuyến X: sức đâm xuyên kém nên chỉ tia nông cho những ung thư da, các u máu, sẹo lồi, sâu nhất tia vào lách cho những ung thư bạch cầu mãn…

Tia Gamma Radi điều trị những ung thư các hố tự nhiên và trên bề mặt dùng vào ung thư cổ tử cung, ung thư lưỡi, ung thư da, ung thư dương vật… ở những nước tiên tiến người ta dùng lridium 192 với những hệ thống khuôn sáp và hệ thống máy tính điện tử đo liều tia chính xác.

Tia của Cobalt 60, Betatron: có đặc điểm khá sâu, áp dụng cho những ung thư bề mặt dầy hoặc nội tạng, loại máy này vẫn phổ biến nhất trên thế giới, do hiệu suất điều trị cao và giá thành hạ. Ở bệnh viện K dùng Coblt 60 chữa ung thư vòm, phổi, vú, hạch, lưỡi, họng, tinh hoàn, phần mềm… Nhiều nước công nghiệp phát triển còn dùng máy gia tốc thẳng và vòng, phát ra những chùm tia có năng lượng cực lớn xuyên sâu để điều trị những ung thư ở sâu trong não, phổi với hiệu suất cao.

Ngoài ra người ta còn dùng đồng vị phóng xạ lôt 131 tiêm vào mạch máu để tới được những ổ ung thư giáp trạng và những vùng di căn của nó gọi là phương pháp tia xạ trong tổ chức. Trong tương lai người ta sẽ chế ra những kháng thể chống ung thư được gắn đồng vị phóng xạ, khi tiêm nó vào cơ thể, kháng thể đó sẽ mang theo tia xạ tới tận hang ổ ung thư “như những đặc công” giết tế bào ung thư tại chỗ.

Mỗi tổ chức ung thư có nhạy cảm với tia xạ khác nhau, vì vậy liều, cách tia cũng khác nhau, thông thường tia trải liều 2-3 Gy/ngày để đủ giết tế bào ung thư và có điều kiện cho tế bào lành hồi phục. Ngoài ra còn có các hình thái tia flash (tia tập trung mạnh), tia trường chiếu rộng, tia toàn thân… và đặc biệt nhấn mạnh hiệu quả của tia tăng buổi (radiotherapie hyper fractionnee).

Nói chung tia xạ là vũ khí có hiệu quả và phổ biến để điều trị ung thư. Nhưng cũng giống như phẫu thuật, nếu lạm dụng sẽ thành con dao hai lưỡi phá hủy sức khỏe, chức năng và gây hậu quả nặng nề. Người ta sáng tạo nhiều biện pháp che chắn tổ chức lành, tính liều lượng chính xác và biểu đồ theo dõi bệnh nhân để nâng cao hiệu quả điều trị. Ngày tia xạ ngày nay trở thành vũ khí quan trọng trong điều trị ung thư. Hai phần ba bệnh nhân ung thư có điều tia xạ. Tia xạ góp phần chữa được 50% các bệnh nhân ung thư được chữa lành bệnh. Ở những nước phát triển khoảng 1 triệu dân có 1 máy Cobalt 60 hoặc máy gia tốc. Ở nước ta chỉ có Bệnh viện ung thư Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng, Huế, thành phố Hồ Chí Minh có máy này.

Điều trị bằng phương pháp dùng hóa chất

Từ lâu và khắp nơi con người thử điều trị ung thư bằng thuốc hóa chất, cây cỏ. Nhưng chỉ sau đại chiến thế giới lần thứ 2, một tàu thủy Mỹ chở hơi độc mù tạc, bị bom chìm ở Ý hơi độc lan rộng. Các thủy thủ bị suy tủy nặng, nhất là giảm dòng bạch cầu lympho. Từ đó các nhà bác học chỉ ra chất mustargen (hay cariolysine) để chữa bệnh ung thư hạch. Thực sự từ 20 năm nay sau khi thử trên súc vật, mới chỉ có hơn 30 loại hóa chất được dùng trên người, được công bố có tác dụng tốt.

Phương pháp điều trị ung thư bằng hóa chất

- Nhóm thuốc làm thay đổi phá hủy phân tử ADN: busulfan Cyclo (hay endoxan) CCNU, BCNU. DTIC.

- Nhóm ức chế tổng hợp ADN mới: MTX. 5PU, 6MP.

- Thuốc tác động đến phân tử ARN (hay nhóm kháng sinh chống ung thư): ACTID, ADRIAM, MYTOMC, BLEOM.

- Thuốc độc thoi nhiễm sắc: Vincristine, VM26.

- Hóa chất tổng hợp: PROCAR, D. ASPLR.

- Các chất nội tiết và kháng nội tiết: Prednisolon, Tamocifene…

Điều trị hóa chất có thể đơn thuần, ví dụ: bệnh bạch cầu cấp, ung thư hạch hoặc phối hợp trước trong và sau phẫu thuật, tia xạ, ví dụ: ung thư rau, tinh hoàn, buồng trứng, vú… hoặc tạm thời, ví dụ: ung thư rau, tinh hoàn muộn. Tác dụng hóa chất rõ nhất là ung thư rau phần lớn là chữa khỏi được khi đã có di căn phổi, sau đó là ung thư tinh hoàn, thận ở trẻ em, ung thư máu, hạch… Năm 1986 - 1987 giải thưởng quốc tế về điều trị ung thư được trao cho nhóm bác sĩ điều trị ung thư trẻ em Mỹ với thành tích đạt tỉ lệ khỏi sau 5 năm trên 50% cho các cháu ung thư bạch cầu cấp thể lympho.

Do tác dụng phụ, gây độc cả cho tế bào lành nên chỉ định điều trị hóa chất phải rất chặt chẽ, điều trị thành từng đợt, duy trì lâu dài và tùy theo diện tích da của bệnh nhân. Một số loại ung thư tinh hoàn, xương, hạch phải điều trị hóa chất nặng, người ta lấy 500 - 1000ml tủy xương bệnh nhân trước, ướp lạnh, sau đó điều trị hóa chất mạnh trong căn hộ cách ly hoàn toàn vô khuẩn. Khi bệnh chính lui, sẽ truyền tủy hoàn hồi lại cho bệnh nhân. Ở Việt Nam, chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu có công nghệ này còn lại chủ yếu chỉ áp dụng điều trị hóa chất cho ung thư máu, rau, hạch hệ thống, tinh hoàn, buồng trứng, vú, vòm, xương…

Điều trị bằng phương pháp miễn dịch

Ung thư là tổ chức lạ sống ký sinh ghép vào cơ thể. Vì vậy nhất định cơ thể có phản ứng chống lại vật lạ này bằng hệ thống miễn dịch thể dịch và tế bào. Năm 1980 Ceser Winstien đã lai ghép tế bào lympho B và tế bào ung thư để tạo ra một dòng tế bào thuần nhất mang cả đặc điểm của tế bào “bố mẹ” tiết ra liên tục kháng thể đơn dòng. Công trình này được giải Nobel năm 1984. Kháng thể này rất đặc hiệu, ngày nay đã được dùng vào chẩn đoán ung thư ở sâu và những ổ di căn nhờ gắn đồng vị phóng xạ, ví dụ: ung thư giáp trạng, ung thư đại tràng, ung thư hắc tố… Hy vọng bằng nghiên này người ta có thể gắn những phóng xạ mạnh hay hóa chất chống ung thư để mang vào các hang ổ bệnh lý, hiệp đồng tiêu diệt ung thư như những “chiến sỹ đặc công trong lòng địch”.

Đã chiết xuất được kháng nguyên bề mặt ung thư hắc tố tế bào mầm thần kinh C 1300, ung thư tế bào non, ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư biểu mô dạ dày, thanh quản…nhưng con đường làm vaccine chống ung thư còn nhiều trắc trở do có nhiều loại ung thư, mỗi ung thư lại có hàng chục loại kháng nguyên. Vả lại ngay khi hệ thống miễn dịch được hoạt hóa rồi chỉ có khả năng giết được 1 đến 10 triệu tế bào ung thư (tức khoảng 1/10 ml tế bào). Vì vậy dù là dùng vaccine đặc hiệu hay kích thích miễn dịch không đặc hiệu như BCG, Levamisol, LH1… chỉ là phương pháp hỗ trợ chứ không thay thế được phẫu thuật, tia xạ và hóa chất.

Từ 1970 người ta cũng thử dùng Interferon, một protein do tế bào tiết ra để chống lại sự nhân lên của virus, để ức chế tế bào ung thư nhân lên phát triển, có người đã cho là “thần dược” chữa ung thư xuất hiện. Nhưng tới năm 1979, Viện Ung thư quốc gia Mỹ bỏ 2 triệu đô la để nghiên cứu thử nghiệm, kết quả rất dè dặt và khiêm tốn. Năm 1982, Charles Weisman và Goeddl đã thành công công nghệ di truyền cấp ghép gen sinh interferon người vào trực khuẩn E. Coli để sản xuất hàng loạt interferon. Các kết quả thử nghiệm trên ung thư xương, hạch, tới nay vẫn chưa có khả quan nhiều.

2. Sự phối hợp các phương pháp điều trị ung thư

Có thể dùng đơn thuần một phương pháp nhưng thông thường hay phối hợp nhiều phương pháp trong một phác đò điều trị ung thư, một bệnh nhân 40 tuổi ung thư vú T2N1M0 Pe V0 được chỉ định phẫu thuật cắt tuyến vú, vét hạch nách, sau đó tia xạ bổ sung vào tại chỗ, hạch để điều trị tại chỗ. Sau đó cho bệnh nhân điều trị thuốc chống nội tiết nữ hoặc cắt buồng trứng bằng phẫu thuật hoặc tia xạ để phòng ngừa tái phát và di căn xa. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ và hợp lý, hiệu quả điều trị tốt hơn, ít tái phát tại chỗ và di căn xa ít hơn. Hoặc đối với ung thư trực tràng lan ra thanh mạc chỉ phẫu thuật cắt bỏ đơn thuần u, tái phát tới 30% nếu kết với tia xạ tỉ lệ tái phát dưới 10%.

Điều trị ung thư nhìn chung khá công phu và phức tạp, đòi hỏi người bệnh phải kiên trì hợp tác chặt chẽ với thầy thuốc, có khi hàng mấy chục năm. Những thành tựu điều trị đã chứng minh rất rõ ràng. Vì vậy ngày nay xu hướng cho bệnh nhân biết rõ về tình hình bệnh tật của mình, biết được những khả năng điều trị để tránh tâm trạng bán tín bán nghi đồng thời khi nắm rõ vấn đề thì hợp tác bệnh nhân - thầy thuốc tự nhiên chặt chẽ và có hiệu quả hơn.

Có thể kể rất nhiều tiến bộ trong điều trị bệnh nhân ung thư với kết quả rất phấn khởi. Giáo sư N. Blokhin, chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, giám đốc Viện nghiên cứu ung thư Matxcova nhắc tới hàng triệu người Xô viết được chữa khỏi bệnh ung thư. Giáo sư Vicent de Vita, Giám đốc Viện ung thư quốc gia Mỹ khẳng định: ung thư là một trong những bệnh mãn tính có nhiều khả năng chữa khỏi bệnh nhất và dễ đề phòng nhất. “Đối với nghiên cứu và điều trị ung thư, hiện nay là kỷ nguyên của những cơ hội lập công”, mặc dầu tiến bộ và lạc quan nhưng vẫn còn nhiều bí hiểm, vẫn khó chữa và nhất là ở giai đoạn muộn. Biện pháp thích hợp có hiệu quả nhất là chủ động phòng ngừa ung thư, bỏ những thói quen nghiện ngập rượu, thuốc lá, tạo ra môi trường sống tự nhiên trong sạch, thường xuyên xem xét theo dõi mình khi thấy những khối cục, vết loét chảy máu bất thường cần đi hỏi ý kiến thầy thuốc sớm. Nếu được phát hiện bệnh sớm ở giai đoạn đầu ngay cả những ung thư ác tính nhất, khó chữa nhất như ung thư phổi, ung thư hắc tố tỉ lệ khỏi bệnh vẫn đạt trên 70%, với ung thư da, cổ tử cung có thể đảm bảo khỏi bệnh 100%.

PGS.TS. Đoàn Hữu Nghị
Giám đốc Bệnh viện E
(TTVN số 17)
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác