Chỉ định liều 131I trong điều trị bệnh nhân Basedow
(11:03 | 18/07/2015)
 - Nghiên cứu được thực hiện bởi Trung tâm HIV/AIDS Hà Nội, Bệnh viện 103 và Bệnh viện Bạch Mai đã đưa ra kết luận việc điều trị Basedow bằng 131I với liều lượng thích hợp giúp giảm đáng kể tỉ lệ cường giáp cũng như nhược giáp sau điều trị.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Basedow là một bệnh nội tiết thường gặp ở nước ta cũng như trên thế giới. Hiện nay có 3 phương pháp điều trị Basedow cơ bản là: điều trị nội khoa bằng thuốc kháng giáp tổng hợp (KGTH); điều trị bằng phẫu thuật và xạ trị chuyển hóa bằng iod phóng xạ (131I). Việc sử dụng 131I cho điều trị các bệnh tuyến giáp cũng như Basedow đã được thực hiện trong nhiều năm qua ở các cơ sở Y học hạt nhân trong cả nước. Do tính chất đơn giản, hiệu quả và thẩm mỹ nên 131I đang có xu hướng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh Basedow. Điều trị bằng 131I thường được chỉ định cho các bệnh nhân được chẩn đoán xác định là Basedow, có thể chưa qua bất kỳ phương pháp điều trị nào (như điều trị nội khoa, phẫu thuật) hoặc tái phát sau điều trị nội khoa, tái phát sau phẫu thuật; biến chứng sau điều trị nội khoa (dị ứng, nhiễm độc gan, giảm bạch cầu, suy tủy xương sau điều trị bằng thuốc kháng giáp) hoặc bệnh nhân không còn chỉ định phẫu thuật... Tuy nhiên, tính liều điều trị thích hợp cho bệnh nhân đến nay vẫn là vấn đề chưa có sự thống nhất, mỗi nơi áp dụng tính liều theo cách của mình. Qua kết quả điều trị cho bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai, chúng tôi đề xuất chỉ định tính liều theo công thức Rubelfield song có điều chỉnh theo độ tập trung 131I ở thời điểm 24 giờ và thể tích tuyến giáp xác định trên siêu âm của bệnh nhân Basedow.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

543 bệnh nhân được chẩn đoán xác định Basedow, điều trị bằng 131I tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân nhận liều 131I bằng đường uống. Sau khi nhận liều điều trị 131I 3-6 tháng bệnh nhân được tái khám lần thứ nhất. Nếu đã về bình giáp hẹn bệnh nhân kiểm tra định kỳ 6 tháng đến 1 năm; nếu nhược giáp cho bệnh nhân dùng Levothyrox 2-4 mg/kg/ngày; nếu bệnh nhân còn cường giáp tiến hành điều trị lại. Thời gian giữa 2 lần điều trị bằng 131I tối thiểu là 6 tháng. Liều điều trị lại tính như lần đầu. Nhận định kết quả theo các tiêu chí lâm sàng và cận lâm sàng.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Tính liều điều trị 131I cho bệnh nhân Basedow

Nhiều cơ sở Y học hạt nhân đang áp dụng tính liều điều trị 131I theo công thức Rubenfeld, dựa vào thể tích tuyến giáp, độ tập trung 131I ở thời điểm 24 giờ [2], [3].

C . V

D =                               x 100

                              T24

Trong đó:

D: Tổng liều 131I tính bằng mCi.

V: Thể tích tuyến giáp tính bằng ml (hoặc g).

T24: Độ tập trung 131I tại tuyến giáp sau 24 giờ (%).

C: liều 131I cho 1g trọng lượng tuyến giáp

Các cơ sở điều trị đưa ra mức liều đề nghị cũng rất khác nhau, từ 0,08 đến 0,20 mCi/g tuyến giáp [5], [6]. Nghĩa là mức liều cao chênh với mức thấp có thể tới 2,5 lần, do đó việc ứng dụng ở các cơ sở y học hạt nhân mới vẫn gặp khó khăn trong chọn liều.Thể tích mô giáp của người bình thường cũng như bệnh nhân Basedow đã thay đổi nhiều, có xu hướng nhỏ hơn so với số liệu công bố trước những năm 1990 [1], [4], [7]. Thực tế chúng tôi gặp có một số bệnh nhân Basedow nhưng kích thước tuyến giáp chỉ dưới 20 ml. Độ tập trung 131I tại tuyến giáp cũng đã có nhiều thay đổi. Có lẽ do phủ muối iode nên độ tập trung giảm hơn so với trước. Trong lâm sàng gặp nhiều bệnh nhân Basedow có độ tập trung 131I thấp dưới 50%, thậm chí có bệnh nhân dưới 35% [1], [4]. Vì vậy mà tuy cùng áp dụng công thức tính liều Rubenfeld, nhưng liều điều trị áp dụng ở các cơ sở khác nhau là chưa thống nhất. Chúng tôi áp dụng phương pháp tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1g tuyến giáp (mCi/1g tuyến giáp)  theo công thức Rubenfeld, liều 131I từ 70 đến 170 mCi/1g, tùy theo giá trị của V và T24 có điều chỉnh liều C cho phù hợp. 

Bảng 1. Lựa chọn mức liều 131I cho 1g tuyến giáp

Trọng lượng

tuyến giáp (g)

Độ tập trung

131I (%) 24 giờ

Mức liều 131I

(mCi/g)

Liều điều trị

(mCi)

< 20

< 50

>50

140 - 170

110 - 140

5,0 - 6,0

4,5 - 5,5

20 - 30

< 50

>50

120  - 150

90 - 120

6,0 - 7,0

5,5 - 6,5

30 - 40

<50

>50

100 - 120

90 -110

7,0 - 8,0

6,5 - 7,5

> 40

<50

> 50

100 - 120

70 - 80

8,0 - 9,0

(5,0 - 6,0) x2 lần

Việc lựa chọn liều thích hợp đã giúp giảm đáng kể tỉ lệ cường giáp cũng như nhược giáp sau điều trị. Kết quả cụ thể, kết quả sau điều trị 3-6 tháng đạt được như sau:

Bảng 2. Kết quả 3-6 tháng sau lần điều trị thứ nhất

Kết quả

Số bệnh nhân

Tỉ lệ %

Bình giáp

413

76,1

Còn cường giáp

81

14,9

Nhược giáp

49

9,0

Kết quả sau điều trị lần 1, theo dõi 3-6 tháng có 85,1% bệnh nhân hết cường giáp (76,1% bình giáp và 9% nhược giáp). 81 bệnh nhân (14,9%) còn cường giáp phải điều trị tiếp lần thứ 2. Kết quả điều trị lần 2 cho 81 bệnh nhân: bình giáp 54 bệnh nhân, nhược giáp 8 bệnh nhân, còn cường giáp phải điều trị lần thứ 3 là 19 bệnh nhân. Cả 19 bệnh nhân này đều hết cường giáp sau điều trị lần thứ 3. Có thêm 4 bệnh nhân bình giáp sau 3-6 tháng trở thành nhược giáp sau 6 tháng. Như vậy, kết quả chung cho các bệnh nhân sau 6-24 tháng như sau:

Bảng 3. Kết quả chung sau 3 lần điều trị (sau 6-24 tháng)

Kết quả

Bình giáp

Nhược giáp

Cường giáp

Sau lần điều trị 1

413

(76,1%)

49

(9,0%)

81

(14,9%)

Sau lần điều trị 2

463

(85,3%)

61

(11,2%)

19

(3,5%)

Sau lần điều trị 3

482

(88,8%)

61

(11,2%)

0

Theo dõi sau 6 - 24 tháng (gồm 462 bệnh nhân điều trị 1 lần, 62 bệnh nhân điều trị 2 lần, 19 bệnh nhân điều trị 3 lần), kết quả chung đạt được: có 88,8% số bệnh nhân về bình giáp, 11,2% số bệnh nhân bị nhược giáp, không có bệnh nhân nào còn cường giáp.

Bảng 4. Số lần điều trị trung bình

Số lần điều trị

Số bệnh nhân

Trung bình

1 lần

462 (85,1%)

 

1,18 lần

2 lần

62  (11,4%)

3 lần

19 (3,5%)

Phần lớn bệnh nhân Basedow chỉ nhận 1 liều 131I và đạt được hiệu quả điều trị, có nghĩa là hết các triệu chứng cường giáp. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân sau điều trị lần thứ nhất chưa hết cường giáp, phải điều trị 2 đến 3 lần mới đạt được hiệu quả mong muốn. Lần điều trị sau cách lần trước tối thiểu là 6 tháng. Số lần điều trị trung bình cho 1 bệnh nhân là 1,18 lần.

IV. KẾT LUẬN

Điều trị Basedow bằng 131I, áp dụng phương pháp tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1g tuyến giáp (mCi/1g tuyến giáp)  theo công thức Rubenfeld, điều chỉnh liều 131I từ 70 đến 170 mCi/1g tùy theo giá trị của thể tích tuyến giáp và độ tập trung 131I lúc 24 giờ tại tuyến. Việc lựa chọn liều thích hợp đã giúp giảm đáng kể tỉ lệ cường giáp cũng như nhược giáp sau điều trị.

Sau lần điều trị đầu có 85,1% bệnh nhân đạt được trạng thái bình giáp. 14,9% (62/543 bệnh nhân) phải điều trị 2 lần và 3,5% phải điều trị 3 lần. Số lần điều trị trung bình là 1,18. Sau điều trị 6-24 tháng, có 88,8% bệnh nhân bình giáp, 11,2% nhược giáp, không còn bệnh nhân cường giáp.

Lê Nhân Tuấn*, Nguyễn Danh Thanh**, Mai Trọng Khoa***

 

* Trung tâm HIV/AIDS Hà Nội

** Bệnh viện 103

*** Bệnh viện Bạch Mai.

Người thẩm định: PGS. TS Trần Đình Hà

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Văn Hạ, Phạm Đức Lộc, Phan Văn Dân (2006), Kết quả điều trị bệnh Basedow bằng dược chất phóng xạ 131I tại khoa Y học hạt nhân - Bệnh viện 103, Y học lâm sàng, số chuyên đề, 54-55.

2. Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Hữu Nghĩa (2009), “Đánh giá kết quả điều trị 5170 bệnh nhân Basedow bằng 131I tại Viện YHPX và UBQĐ”, Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tập 4, số đặc biệt, 9/2009, tr.104-108.

3. Mai Trọng Khoa, Phan Sỹ An, Bùi Thanh Huyền (2001), “Tỉ lệ suy giáp trạng ở bệnh nhân Basedow sau điều trị 131I", Tạp chí Thông tin y dược học, tr.30-33.

4. Mai Trọng Khoa, Trần Đình Hà (2009), “Đánh giá kết quả điều trị bệnh Basedow bằng iode phóng xạ tại bệnh viện Bạch Mai”, Tạp chí NCKH Đại học Y Hà Nội, tập 62, số 3, 43-48.

5. Douglas S. (2011), Radioiodine Therapy for Hyperthyroidism, New Engl. J. Med., 364, pp.542-550.

6. Lind P. (2002), “Strategies of radioiodine therapy for Graves’disease”. Eur. J. Nucl. Med. Mol. Imaging, 29 (2), pp. 453-457.

7. Traino A.C., Di Martino F., Lazzeri M. (2000), Influence of thyroid volume reduction on calculated dose in radioiodine therapy of Basedow, Physics in Medicine and Biology, Med. Vol. 45, pp. 121 - 129.                                          TÓM TẮT

543 bệnh nhân Basedow được điều trị bằng 131I. Tính liều theo hoạt độ phóng xạ cho 1g tuyến giáp (mCi/1g tuyến giáp) điều chỉnh liều 131I từ 70 đến 170 mCi/1g tùy theo giá trị của thể tích tuyến giáp và độ tập trung 131I lúc 24 giờ tại tuyến. Theo dõi sau điều trị 6-24 tháng cho thấy, việc lựa chọn liều thích hợp đã giúp giảm đáng kể tỉ lệ cường giáp cũng như nhược giáp.


Bài viết:

Chỉ định liều 131I trong điều trị bệnh nhân Basedow

Thầy thuốc Việt Nam

 Xu hướng bạn đọc:

Những triệu chứng của bệnh về tuyến giáp

Tìm hiểu giá trị của siêu âm trong chẩn đoán bướu nhân tuyến giáp

Tuyến giáp bị ảnh hưởng khi nhiễm xạ

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác