Chiến lược và chính sách sử dụng vacxin HPV phòng ung thư cổ tử cung
(08:42 | 21/05/2014)
  - Nhiễm HPV là bệnh lây lan qua đường sinh dục do HPV.

HPV là tên của một nhóm virus bao gồm hơn 100 chủng khác nhau, trong đó hơn 30 chủng là lây truyền qua đường tình dục, bao gồm qua dương vật, âm đạo, hậu môn. Khoảng 20 triệu người trên thế giới hiện đang bị nhiễm HPV. Ít nhất khoảng 50% nam và nữ ở độ tuổi hoạt động sinh dục đã từng bị nhiễm HPV. Vào độ tuổi 50, ít nhất 80% phụ nữ bị nhiễm HPV đường sinh dục. Hầu hết những người bị nhiêm HPV là không có triệu chứng và tự khỏi. Do đó đa số những người không nhận biết được tình trạng nhiễm HPV của họ và họ có thể làm lây truyền HPV sang cho bạn tình. Khoảng 80% trường hợp nhiễm HPV và loạn sản tế bào cổ tử cung nhẹ tự khỏi do cơ chế miễn dịch tự nhiên của cơ thể. Tuy nhiên, nếu nhiễm HPV loại sinh ung thì tỉ lệ tự khỏi ít và tiến triển đến ung thư nhanh hơn. Thời gian từ lúc nhiễm đến tiền ung thư (loạn sản tế bào cổ tử cung nặng) và ung thư là trên 10 năm.

          Có hơn 100 loại HPV khác nhau, trong đó khoảng 8 loại HPV có liên quan đến ung thư cổ tử cung. HPV 16 và 18 được thống ke là gây khoản 70 – 73% trường hợp ung thư cổ tử cung trên thế giới và châu Á. Ngoài ra còn có cà bệnh đường sinh dục khác do HPV 6, 11 như sùi mào gà đường sinh dục nam và nữ (chiếm 90% trường hợp), ung thư và tiền ung thư âm hộ - âm đạo, bệnh phổi tái phát do HPV ở trẻ em.  Loạn sản tế bào cổ tử cung nhẹ do HPV loại này thường rất khó phát hiện sớm.

          Rất hiếm khi phụ nữ mang thai có thể truyền HPV sang con trong khi sinh. Những đứa trẻ phơi nhiễm với HPV rất hiếm khi phất triển các mụn cóc ở họng hay ở thanh quản. Một số chủng HPV được coi là chủng “có nguy cơ cao” và cho kết quả xét nghiệm Pap dương tính. Chúng có thể gây ra ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, hậu môn và dương vật. Các chủng HPV khác được coi là “có nguy cơ thấp” và cho  xét nghiệm Pap dương tính nhẹ với các biểu hiện như mụn cóc sinh dục (mụn đơn hay đa mụn), bướu ở bộ phận sinh dục và đôi khi gây loét sùi như hoa súp lơ hay như mào gà. Tát cả các chủng “có nguy cơ thấp” thường không gây hậu quả nặng nề. Khoảng một phần ba (10/30) các chủng HPV phát hiện được có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung.

          Các nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết phụ nữ (90%) nhiễm HPV nhưng không phát hiện được trong vòng 2 năm. Nhiễm trùng kéo dài các chủng HPV “có nguy cơ cao” là yếu tố nguy cơ chính của ung thư cổ tử cung. Xét nghiệm Pap có thể phát hiện sớm tế bào ung thư và tiền ung thư cổ tử cung. Việc thường xuyên khám sức khỏe và xét nghiệm Pap, điều trị kịp thời có thể ngăn chặn các tế bào ung thư cổ tử cung đe dọa tính mạng. Việc tiến hành các chương trình Pap lọc sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung, HPV hiếm khi gây ung thư đường sinh dục và hậu môn.

          Trên thế giới cứ 2 phút có một phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam ung thư cổ tử cung là ung thư phổ biến và nguyên nhân hàng đầu trong các loại ung thư ở phụ nữ. Ước tính năm 2002, có 6224 trường hợp ung thư cổ tử cung mới phát hiện và 3334 trường hợp tử vong do ung thư này. Tỷ suất chuẩn hóa theo tuổi và tỷ suất tử vong do ung thư cổ tử cung của Việt Nam trong năm 2002 là 20,2 và 11,2 trên 100.000 phụ nữ. Tỷ suất mắc ung thư cổ tử cung cao hơn ở Miền Nam so với miền Bắc (26,2 so với 6,1 trên 100.000 phụ nữ), tỷ suất ung thư cổ tử cung ở Việt Nam đã được chứng minh là cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển và đang phát triển khác do các nước này có mức độ bao phủ của sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung cao hơn. Điều đáng được quan tâm là các phụ nữ bị chết vì ung thư cổ tử cung cao nhất là ở tuổi có hiệu suất lao động cao (40 – 49 tuổi), ảnh hưởng nhiều đến kinh tế gia đình và xã hội.

Hiện tại không có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn nhiễm HPV, chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị tổn thương do các tế bào tiền ung thư.

          Các đồng yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển ung thư là: nhiễm các chủng HPV, tuổi nhiễm HPV, suy giảm miễn dịch, hút thuốc lá, nhiễm Chlamydia trachomatis, HSV 2 và các yếu tố nội tiết, di truyền, môi trường. Cách tốt nhất để loại trừ nguy cơ lây nhiễm HPV là không quan hệ tình dục với bất cứ một ai. Đối với những người vẫn có quan hệ tình dục, tốt nhất là chỉ nên quan hệ tình dục thủy chung với một bạn tình không nhiễm HPV. Tuy nhiên rất khó xác định bạn tình hiện tại có bị nhiễm HPV hay không. Nếu cả hai giải pháp trên không thực hiện được thì nên giảm số bạn tình hoặc chỉ nên quan hệ tình dục với người ít có nguy cơ nhiễm HPV (không có hay ít bạn tình). Do nhiễm HPV lây truyền qua đường tình dục nên việc sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục làm giảm nguy cơ  nhiễm HPV và từ đó làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung.Hiện tại không có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn nhiễm HPV. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị tổn thương do các tế bào tiền ung thư.

Hiện nay, chỉ có vaccin tứ liên GRADASIL (HPV 6,11,16,18) của Công ty Merck được cho phép lưu hành trên thế giới. Kể từ khi được cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) cho phép lưu hành vào tháng 6 năm 2006, cho đến nay có 59 quốc gia trên thế giới đã áp dụng vaccin này và chỉ định tiêm cho cả nam lẫn nữ. 10 quốc gia châu Á Thái Bình Dương đã lưu hành GRADASIL là Australia, New Zealand, Đài Loan, Malaysia, Hồng Kông, Singapore, Macau, Philipin, Indonesia, Thái Lan. Các nước phát triển đang từng bước đưa vaccin này vào sử dụng theo chương trình tiêm chủng mở rộng do nhà nước chi trả để phòng ung thư cổ tử cung mặc dù chương trình sàng lọc tế bào phát hiện sớm ung thư cổ tử cung ở những nước này có tỷ lệ rất cao. Đi đầu trong phong trào này là Mỹ, Australia, New Zealand, Bỉ và Italia và đang tiến đến chương trình này có Đức,Pháp và Canada.

Typ HPV

Nữ giới

 

Nam giới

 

 

 

 

16/18

70%  Ung thư cổ tử cung

70%  Các ung thư khác liên

quan tới HPV

65% Tiền ung thư

25% CIN 1

 

70% Ung thư hậu môn

70% Các ung thư khác liên quan tới HPV

65% Tiền ung thư

Lây truyền qua phụ nữ

 

 

 

6/11

 

90% Loét sinh dục

90% Loét RRP

10% CIN 1

 

90% loét sinh dục

90% loét RRP

Lây truyền qua phụ nữ

 Nghiên cứu về vaccin GARDASIL là một công trình nghiên cứu lớn nhất bao gồm 33.000 đối tượng tham gia nghiên cứu có đại diện của nhiều nước khắp 5 châu lục. Nghiên cứu được đánh giá là có tính khoa học bằng chứng cao và giá trị. Điểm đánh giá hiệu quả của GARDASIL –Merck là trên tiền ung thư (CIN 2/3), do đó vaccin này là vaccin duy nhất có tác dụng ngừa các loại ung thư và bệnh do HPV 6,11,16,18  gây ra như ung thư cổ tử cung, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo và sùi mào gà  sinh dục nam và nữ. Ngoài ra vaccin này có giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân, nhất là đối với bệnh sùi mào gà sinh dục nam và nữ do HPV 6 và 11 gây nên. Tuy nhiên, vì HPV 16, 18 là nguyên nhân của 70-73% trường hợp ung thư cổ tử cung, do đó vẫn phải sàng lọc bằng phết âm đạo cho những người đã tiêm vaccin để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung không do HPV 16 và 18 nếu có. Hiệu quả của bảo vệ vaccin này là 5 năm cho đến thời điểm báo cáo nghiên cứu hồi cuối năm 2006 và hứa hẹn một thời gian bảo vệ dài hơn do được xác định có tồn tại một trí nhớ miễn dịch.

Nghiên cứu cũng đã thực hiện trên 1.618 đối tượng châu Á (trong đó Thái Lan có 445 đối tượng tham gia nghiên cứu). Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả và độ an toàn của GARDASIL là tương đương với kết quả nghiên cứu chung. Riêng tác dụng phụ tại chỗ do vaccin là sưng và đau thì thấp hơn so với chủng tộc khác. Vaccin được chứng minh là an toàn tương tự giả dược và không ảnh hưởng đến thai nhi. Tuy nhiên, vì chưa đủ dữ liệu trên phụ nữ có thai nên không khuyến cáo sử dụng vaccin trên đối tượng này.

Các công trình nghiên cứu vẫn đang tiếp tục bao gồm nghiên cứu đánh giá hiệu quả  của GARDASIL trên các typ HPV khác cùng nhóm với HPV 16, 18, 6, 11; hiệu quả của vaccin trên phụ nữ  và nam giới ở mọi lứa tuổi trong việc phòng ngừa các UTCTC, âm hộ, âm đạo và sùi mào gà do HPV 6, 11, 16, 18 và các typ HPV khác gây ra.

Nhiều Cơ quan Y tế và Hội Y Khoa của Mỹ đã kêu gọi ủng hộ cho việc áp dụng vaccin tứ liên này vào trong chương trình tiêm chủng quốc gia(EPI) kể từ khi vaccin này được FDA cho lưu hành.

Các tổ chức phi chính phủ cũng đã kêu gọi quốc tế giúp đỡ và áp dụng việc tiêm phòng vaccin phòng ngừa ung thư cổ tử cung trên các nước đang phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới/Quỹ Dân số liên hiệp quốc WHO/UNFPA đã phát hành hướng dẫn chính sách và chương trình về ”chuẩn bị giới thiệu vaccin HPV” cho các nước. Tổ chữ PATH (Program for Appropriate Technology in Heath) với sự hỗ trợ về tài chính của Quỹ Bill and Melinda Gates đang tiến hành dự án nghiên cứu các điều kiện cần thiết để đưa vaccin ngừ ung thư cổ tử cung vào áp dụng trong chương trình tiêm chủng mở rộng  ở 4 nước là Việt Nam, Iidia, Peru và Uganda.

GARDASIL được khuyến cáo dùng cho trẻ em  và vị thành niên trong độ tuổi 9-17 và phụ nữ trong độ tuổi 18-26. Lý tưởng nhất là các trẻ em gái phải được tiêm vaccin trước tuổi quan hệ tình dục. Đó là vì vaccin chỉ có hiệu quả nhất khi trẻ em gái chưa nhiễm một chủng virus nào có trong vaccin. GARDASIL dùng tiêm bắp với 3 liều 0,5ml cách nhau theo lịch tiêm như sau: liều đầu tiên vào ngày đã chọn, liều thứ hai vào 2 tháng sau liều đầu tiên, liều thứ ba 6 tháng sau liều đầu tiên.

Vaccin GARDASIL cần được sớm lưu hành tại Việt Nam. Việc đưa vaccin này vào Việt Nam nhanh hơn một ngày sẽ nghiên cứu được khoảng 10 phụ nữ khỏi tử vong do ung thư cổ ở Việt Nam. Xã hội hóa việc tiêm chủng với sự tham gia trợ giá của nhiều thành phần: người dân tự trả, nhà nước trợ giá một phần, công ty dược trợ giá và các tổ chức quốc tế hỗ trợ.

 

PGS.TS Nguyễn Trần Hiển

Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương

(TTVN số 8)

 

 

 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác