Đặc điểm lâm sàng bệnh eczema bàn tay tại bệnh viện Da liễu Trung ương
(07:44 | 14/03/2015)
 - Khảo sát tình hình, đặc điểm lâm sàng bệnh eczema bàn tay tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ 4-8/2013.

 TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tình hình, đặc điểm lâm sàng bệnh eczema bàn tay tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ 4-8/2013.

Thiết kế nghiên cứu:  mô tả cắt ngang, tiến cứu.

Kết quả: trong 320 bệnh nhân bị eczema bàn tay cho thấy bệnh chủ yếu gặp nữ giới (nữ/nam = 3/1), và phổ biến ở nhóm tuổi từ 20-29 tuổi (32,81%). Nghề nghiệp gặp phổ biến là nhân viên văn phòng, nội trợ, người bán hàng rau quả-thực phẩm, công nhân xây dựng, học sinh-sinh viên, … Tỉ lệ eczema bàn tay do Viêm da tiếp xúc (VDTX) là phổ biến nhất 56,25%, do viêm da cơ địa (VDCĐ) chiếm 14,68%, VDCĐ kết hợp VDTX chiếm 6,25%. Eczema bàn tay do VDCĐ chủ yếu gặp ở nhóm 10-19 tuổi, còn  eczema bàn tay do VDTX chủ yếu gặp ở nhóm tuổi 20-29. Vị trí tổn thương trên 1 bàn tay chiếm 26,56%, trong đó do VDTX là 76,47%. Mức độ nặng của bệnh chủ yếu ở mức trung bình 83,1% (theo chỉ số HECSI).

Từ khóa: Eczema bàn tay, Viêm da cơ địa, Viêm da tiếp xúc, HECSI (chỉ số mức độ nặng của bệnh eczema bàn tay).

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Eczema bàn tay (hand eczema) là một bệnh viêm da mạn tính ở bàn tay gây nên do kết hợp của cơ địa di truyền với các yếu tố tác động từ bên ngoài (các chất kích ứng, dị ứng, môi trường, khí hậu). Bệnh thường xảy ra hoặc trầm trọng hơn ở những người do công việc phải tiếp xúc nhiều đến hóa chất, chất tẩy rửa như dịch vụ làm sạch, công nhân xây dựng, nội trợ, bán xăng dầu, lái xe, thợ làm đầu, điều dưỡng, công nhân cơ khí nên còn được gọi là bệnh viêm da nghề nghiệp.

Trên thế giới, Eczema bàn tay bệnh da khá phổ biếnđược mô tả vào đầu thế kỷ 19. Theo  Elston, có 2% đến 10% dân số mắc bệnh eczema bàn tay [1]. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về eczema bàn tay, vấn đề quản lý và dự phòng bệnh. Ở Việt Nam, eczema bàn tay cũng là bệnh rất phổ biến, chiếm tỉ lệ khá cao trên các bệnh nhân đến khám tại các cơ sở Da liễu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến, mục tiêu nghiên cứu là: “Khảo sát tình hình, đặc điểm lâm sàng của bệnh eczema bàn tay tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương năm 2013”.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng: là 320 bệnh nhân bị eczema bàn tay đến khám tại Bệnh viện Da liễu TW  từ 4-8/2013.

* Tiêu chuẩn chẩn đoán: chủ yếu dựa vào lâm sàng.

        Da lòng bàn tay, ngón tay, mu tay có các dát đỏ khô, ngứa, nứt nẻ, có vảy da, phù nề, tiết dịch. Mụn nước, mụn mủ (±); Ngứa/đau trong các đợt viêm cấp; Các vùng da khác không có tổn thương; Tổn thương móng (±). 

* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

   + Bệnh nhân được chẩn đoán eczema bàn tay.

   + Không phân biệt giới, nghề nghiệp, địa dư.

   +  Có khả năng hiểu và giao tiếp bình thường.

   + Đồng ý tham gia và tuân thủ các yêu cầu nghiên cứu.

*  Tiêu chuẩn loại trừ

   + Các trường hợp có biểu hiện viêm da bàn tay, nhưng nằm trong bệnh cảnh của bệnh da khác như dị ứng thuốc, nấm da, vảy nến, lichen plan, ghẻ…

   + Bệnh nhân mắc bệnh nội khoa nặng ảnh hưởng đến cách tự đánh giá.

   + Không kiểm soát được hành vi. Không đồng ý tham gia.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, tiến cứu.

- Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: lấy mẫu thuận tiện: lấy toàn bộ bệnh nhân bị eczema bàn tay đến khám tại Bệnh viện Da Liễu TW trong thời gian nghiên cứu.

2.3. Các bước tiến hành

*  Khai thác các thông tin: tuổi, giới tính, địa dư, nghề nghiệp.

*  Khám bệnh phát hiện đặc điểm lâm sàng:

   + Vị trí tổn thương trên bàn tay: đầu ngón, ngón tay, lòng bàn tay, mu bàn tay, cổ tay.

   + Diện tích của tổn thương trên mỗi vị trí của bàn tay.

   + Các dấu hiệu của tổn thương: ban đỏ, vảy da, thâm nhiễm, mụn nước, nứt nẻ, phù nề, vảy tiết, khô da, thay đổi móng.

- Xác định các tiêu chí lâm sàng để phân loại eczema bàn tay theo căn nguyên:

   + VDTX: tiền sử tiếp xúc với các chất kích ứng như xà phòng, chất tẩy rửa, xăng, dầu, mỡ, xi măng, nước… hoặc tiền sử phơi nhiễm với các chất dị ứng

   + VDCĐ: tiền sử VDCĐ trước đó và/hiện tại có VDCĐ ở các vị trí khác của cơ thể.

Đánh giá mức độ nặng của bệnh eczema bàn tay dựa vào chỉ số HECSI (Hand Eczema Severity Index) năm 2005 [2], [3]

       Chỉ số HECSI dựa vào diện tích da bị tổn thương trên 5 vị trí của 2 bàn tay: đầu ngón tay, ngón tay (không kể đầu ngón tay), lòng bàn tay, mu bàn tay cổ tay (0-4 điểm) và mức độ của 6 dấu hiệu lâm sàng  bao gồm: ban đỏ, thâm nhiễm, mụn nước, nứt da, vảy da, phù nề (0-3 điểm) và diện tích da bị ảnh hưởng trên trên mỗi vị trí của bàn tay.

Điểm số HECSI = tổng toàn bộ số điểm trên 5 vị trí cộng lại.

Điểm số HECSI thay đổi từ 0 đến tối đa là 360 điểm: điểm càng cao bệnh eczema bàn tay càng nặng. Thường chia làm 3 mức độ: Nhẹ: 0-11 điểm, Trung bình: 12-27 điểm, Nặng: 28 điểm [3].

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

           Bảng 1. Phân bố theo giới, tuổi (n=320)

Nhóm tuổi

Nam (n =79)

Nữ (n=241)

n

%

n

%

1-9 tuổi

7

2,19

11

3,44

10-19 tuổi

18

5,63

39

12,19

20-29 tuổi

11

3,44

105

32,81

30-39 tuổi

11

3,44

37

11,56

40-49 tuổi

9

2,81

32

10

50-59 tuổi

18

5,63

9

2,91

60-69 tuổi

5

1,56

8

2,5

Tổng

79

24,6

241

75,3

Nhận xét bảng 1: 

- Giới: bệnh gặp ở nữ giới cao gấp 3 lần so với nam giới (nữ/nam = 3/1). Số liệu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Yun Chu Kang và cs (2002) bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ với tỷ lệ nữ/nam = 5/1 [4].

- Tuổi: nhóm tuổi mắc bệnh phổ biến nhất là 20-30 tuổi (32,81%); tuổi trung bình là 29,76 tuổi (nhỏ nhất là 3 tuổi, lớn nhất là 69 tuổi) và chủ yếu gặp ở nữ giới. Kết quả này tương đương với Agner và cộng sự (2008) nhóm tuổi phổ biến nhất là 30-39 tuổi, chiếm 25% [7]; Yun Chu Kang và cs (2002), tuổi trung bình của bệnh nhân là 38 tuổi (dao động từ 1 đến 73 tuổi), nhóm tuổi phổ biến nhất là 20-30 [4].

Bảng 2. Phân bố theo nghề nghiệp (n=320)

Nghề nghiệp

Nam

Nữ

Tổng

n

%

n

%

n

%

Nhân viên văn phòng

4

1,25

47

14,69

51

17,5

Người làm nội trợ

0

0

45

14,06

45

14,06

Bán hàng (rau, quả…)

0

0

37

11,56

37

11,56

Công nhân xây dựng

26

8,13

1

0,27

27

8,4

Nông dân

2

0,63

23

7,19

25

7,8

Thợ sửa chữa xe máy, ô tô

15

4,7

0

0

15

4,7

Thợ làm tóc

0

0

14

4,4

14

4,4

Nhân viên y tế, dược

0

0

12

3,8

12

3,8

Nhân viên vệ sinh

0

0

11

3,4

11

3,4

 Học sinh-sinh viên

22

6,88

38

11,88

60

18,75

Nghề khác

10

3,16

13

4,1

23

7,2

Nhận xét bảng 2: nghề phổ biến nhất bị eczema bàn tay là NV văn phòng 17,5%,  HS-SV 18,75%, người nội trợ 14,06%, bán hàng (rau, quả) 11,56%, công nhân xây dựng 8,4%.

3.2. Đặc điểm lâm sàng của eczema bàn tay

        Bảng 3. Phân loại bệnh eczema bàn tay theo căn nguyên (n=320)

Phân loại eczema bàn tay

n

%

VDCĐ

47

14,68

VDCĐ + VDTX

20

6,25

VDTX

180

56,25

Không rõ căn nguyên

73

22,81

Tổng

320

100

Nhận xét bảng 3: eczema bàn tay do VDTX là thường gặp nhất 56,25%; sau đến VDCĐ 14,68%; do VDCĐ kết hợp với VDTX chiếm 6,25%; tuy nhiên Eczema bàn tay không rõ căn nguyên chiếm đến 22,81%.

Phân loại eczema bàn tay hiện nay được nhiều tác giả đánh giá là rất khó khăn và phức tạp. Nhìn chung cách phân loại phổ biến nhất là theo căn nguyên, tuy nhiên cũng chưa thật sự có tiêu chuẩn thống nhất trong cách phân loại này. Hiện nay chủ yếu phân loại thành 4 nhóm: eczema bàn tay do VDCĐ, do VDTX, do VDCĐ kết hợp với VDTX, và eczema bàn tay không rõ căn nguyên.

Nghiên cứu của Yun Chul Kang (2002) cho thấy bệnh eczema bàn tay do VDTX kích ứng chiếm 35,5%, tiếp theo là VDTX dị ứng 31,2%. VDCĐ là 8,6%, VDCĐ + VDTX 24,7% [4]. Theo Meding và Swanbeck thì tỉ lệ eczema bàn tay do VDTX kích ứng là 35%, VDTX dị ứng 19%, VDCĐ là 22% [5].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như các nghiên cứu khác về eczema bàn tay thường do VDTX kích ứng. Tuy nhiên, tỷ lệ do VDCĐ thì có sự khác nhau trong các nghiên cứu. Sự khác nhau này có thể do mục đích nghiên cứu, cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau.

Bảng 4. Phân bố theo nhóm tuổi (n=320)

    Nhóm tuổi

         

Phân loại

1-9t

 

10-19

 

20-29t

 

30-39

 

40-49

 

50-59

 

60-69

 

Tổng

VDCĐ

n

10

25

4

5

3

0

0

47

%

21,28

53,19

8,5

10,64

6,39

0

0

100

VDCĐ +  VDTX

n

1

4

2

4

4

5

0

20

%

5

20

10

20

20

25

0

100

VDTX

n

0

29

92

33

14

18

3

180

%

0

16,11

51,11

18,33

7,78

10

1,67

100

KRCN

n

7

8

18

6

20

4

10

73

%

9,59

10,96

24,66

8,22

27,4

5,5

13,7

100

Tổng

18

57

116

48

41

27

13

320

Nhận xét bảng 4: eczema bàn tay do VDCĐ gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi trẻ từ 10-19 tuổi (53,19%), do VDTX gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi từ 20-29 tuổi (51,11%).

Yun Chul Kang cho thấy thể VDCĐ bàn tay gặp phổ biến ở lứa tuổi 15, trong đó có tiền sử về các bệnh dị ứng và có tổn thương eczema ở vị trí khác  [4]

Theo English.J và cộng sự (2009): khoảng 1/3 trường hợp eczema bàn tay xảy ra trước tuổi 20 và chủ yếu gặp thể VDCĐ bàn tay  [6].

Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có nhiều điểm tương tự với các nghiên cứu khác là nhóm tuổi của bệnh nhân VDCĐ bàn tay thường rất trẻ.

Bảng 5. Vị trí tổn thương eczema bàn tay

                 Vị trí

Loại eczema

Cả 2 bàn tay

Trên 1 bàn tay

N

%

n

%

VDCĐ

47

20

0

0

VDCĐ + VDTX

20

8.5

0

0

VDTX

115

35.94

65

76.47

KRCN

53

22.56

20

23.53

Tổng

235

100

85

100

Nhận xét bảng 5: vị trí tổn thương chủ yếu ở cả 2 bàn tay chiếm 73,44%, tổn thương trên 1 bàn tay chiếm 26,56%. Tổn thương trên 1 bàn tay chủ yếu gặp ở bệnh nhân VDTX (chiếm 76,47%).

Bảng 6. Các loại tổn thương trên eczema bàn tay

Các loại tổn thương da

n

%

Vảy da

261

81,56

Đỏ da

193

60,31

Nứt da

125

39,06

Thâm nhiễm

85

26,56

Mụn nước

75

23,44

Phù nề

10

3,13

Thay đổi móng

20

6,26

Vảy tiết

20

6,28

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhận xét bảng 6: biểu hiện eczema bàn tay với dấu hiệu vảy da chiếm tỉ lệ cao nhất 81,56%, sau đến ban đỏ 60,31%, nứt da 39,06%. 

Theo Yun Chul Kang, tổn thương vảy da chiếm đa số 89,2%, ban đỏ 46,2%, nứt da 37,6%, thâm nhiễm 23,7%, mụn nước 22,6% và thay đổi móng 4,3% [4].

Theo Diepgen và cộng sự (2009): vảy da và ban đỏ cũng là những triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất, ngoại trừ dày sừng lòng bàn tay triệu chứng thâm nhiễm là chủ yếu [8].

Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với các nghiên cứu khác là tỷ lệ dấu hiệu vảy da và ban đỏ gặp phổ biến nhất ở bệnh nhân eczema bàn tay.

Bảng 7. Phân bố mức độ nặng của eczema bàn tay

Mức độ nặng của bệnh eczema bàn  tay

n

%

Nhẹ (HECSI ≤11)

41

12,8

Trung bình (11< HECSI < 28)

266

83,1

Nặng (HECSI ≥ 28)

13

4,1

Nhận xét bảng 7: đa số bệnh nhân eczema bàn tay là ở mức độ trung bình 83,1% với chỉ số HECSI từ 11< HECSI < 28; mức độ nhẹ là 12,8%, mức độ nặng chỉ chiếm 4,1%.

Bảng 8. Chỉ số HECSI trung bình theo giới tính

   HECSI

Giới

 

X

SD

p

  Nam (n = 79)

    17,81 (6-96)

5,88

  p = 0,86 > 0,05

  Nữ (n = 241)

    17,69 (6-32)

5,49

  Tổng ( n= 320)

    17,27 (6-96)

6,79

Nhận xét bảng 8: chỉ số HECSI ở nam là 17,81 (6-96), tương đương với nữ là 17,69 (6-32) với p>0,05.

Kết quả của chúng tôi tương tự như Agner và cs nghiên cứu trên 416 bệnh nhân ở châu Âu (2008) cho thấy chỉ số HECSI trung bình là 17,0 (8-35). Tuy nhiên, chỉ số HECSI ở nam giới là 20,5, của nữ giới là 14,5 và có sự khác biệt về mức độ nặng của bệnh ở 2 giới [7]. Nghiên cứu của Diepgen và cs (2009), chỉ số HECSI trung bình là 18, trong đó nam giới là 21, nữ giới 14,5, và có sự khác biệt về mức độ nặng của bệnh giữa 2 giới  [8].

Nghiên cứu của MiYu và cs, chỉ số HECSI trung bình là 27 (14-42,75), trong đó nam giới là 28, nữ giới là 26. Chỉ số HECSI trong nghiên cứu của MiYu cao hơn so với nghiên cứu của  tôi, tuy nhiên không tìm thấy sự khác biệt về mức độ nặng của bệnh ở 2 giới [9]. Nghiên cứu của Charan trên bệnh nhân eczema bàn tay đến khám ở một bệnh viện của Ấn Độ (2013), chỉ số HECSI trung bình của bệnh nhân đến khám là 14,46, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi [10]. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng không tìm thấy sự khác biệt về mức độ bệnh nặng giữa 2 giới.

Chúng tôi nhận thấy chỉ số về mức độ nặng của bệnh giữa 2 giới nam và nữ của các nước châu Âu luôn có sự khác biệt, chỉ số HECSI ở nam luôn cao hơn ở nữ. Còn ở các nước châu Á như Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam thì không có sự khác biệt về mức độ nặng của bệnh giữa 2 giới. Sự khác nhau có thể là do đối tượng nghiên cứu, tính chất địa lý, khí hậu. Các yếu tố nguy cơ tác động như phơi nhiễm công việc, ngành nghề, văn hóa, phong tục tập quán cũng khác nhau, đặc biệt là giữa các nước châu Âu và châu Á.

KẾT LUẬN

- Bệnh eczema bàn tay gặp nữ giới nhiều hơn nam (nữ/nam = 3/1), phổ biến ở nhóm tuổi từ 20-29 tuổi (32,81%).  Nghề nghiệp gặp ở nhân viên văn phòng, nội trợ, người bán hàng rau quả-thực phẩm, công nhân xây dựng, học sinh - sinh viên, …

- Tỉ lệ eczema bàn tay do Viêm da tiếp xúc (VDTX) là cao nhất 56,25%, do Viêm da cơ địa (VDCĐ) chiếm 14,68%, VDCĐ kết hợp VDTX chiếm 6,25%. Eczema bàn tay do VDCĐ gặp ở nhóm 10-19 tuổi, còn  eczema bàn tay do VDTX gặp ở nhóm tuổi 20-29. Vị trí tổn thương trên 1 bàn tay chiếm 26,56%, trong đó do VDTX là 76,47%. Mức độ nặng của bệnh ở mức trung bình 83,1% (theo chỉ số HECSI).

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Elston DM, Ahmed DDF, Watsky KL và cs, (2002), "Hand dermatitis", J Am Acad Dermatol, 47, p291-299.

2. Torkil menne, Howard I Maibach (2000), Hand eczema, 2nd,  Dermatology clinical and basic science series

3. Held E, Skoet R, Johansen JD (2005), “ The hand eczema severity index (HECSI): a scoring system for clinical assessment of hand eczema. A study of inter- and intraobserver reliability”. Br.J.Dermatol, 152: p302-307

4. Yun Chul Kang, Sanghoon Lee, Sung Ku Ahn và cs (2002), “Clinical Manifestations of Hand Eczema Compared by Etiologic Classification and Irritation Reactivity to SLS”, The Journal of Dermatology, Vol. 29: p477– 483.

5. Meding B. and Swanbeck G (1999), “Epidemiology of different types of hand eczema in an industrial city”, Acta Derm. Venereol, 69, p277.

6. English. J, Aldridge. R, Gawkrodger. J và cs (2009), “Consensus statement on the management of chronic hand eczema”, Journal compilation British Association of Dermatologists, 34: p761–769

7. Agner T, Andersen KE, Brandao FM và cs (2008), “Hand eczema severity and quality of life: a cross-sectional, multicentre study of hand eczema patients”. Contact Dermatitis 59: p43–47. 

8. Diepgen T.L, Andersen K.E, Brandao F.M và cs (2009), “Hand eczema classification: a cross-sectional, multicentre study of the aetiology and morphology of hand eczema”, British Journal of Dermatology (160), p353–358

9. Mi Yu, Tae Young Han, June Hyunkyung Lee và cs (2012), “The Quality of Life and Depressive Mood among Korean Patients with Hand Eczema”, Ann Dermatol, 24 (4): p430 – 437

10. Ujwala Priya Charan, C.V Dincy Peter, Susanne A (2013), “impact of hand eczema severity on quality of life”, original article, Indian dermatology online journal, vol 4, p 108.

 

                                                                 Phạm Thị Thanh Huyền*, Trần Lan Anh**

                           * Bộ môn Nội trường ĐHYK Vinh,** Bệnh viện Da liễu Trung ương

                       

 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)