Đánh giá hiệu quả của cimetidin trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà tại bệnh viện Da liễu Trung ương
(09:04 | 30/03/2015)
  - Đánh giá tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát ở bệnh nhân bị sùi mào gà so với trị liệu laser CO2 đơn thuần tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.

 TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng của cimetidin trong phòng tái phát ở bệnh nhân bị sùi mào gà so với trị liệu laser CO2  đơn thuần.

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. 63 bệnh nhân được chia làm 2 nhóm, nhóm 1 có 31 bệnh nhân được điều trị  bằng laser CO2, nhóm 2 có 32 bệnh nhân được điều trị bằng laser CO2  phối hợp với uống cimetidin liều 40mg/kg/24h trong 8 tuần.

Kết quả: Tỉ lệ khỏi bệnh sau 1 trị liệu bằng laser CO2  đối với hai nhóm nghiên cứu là  64.52% và 50%. Theo dõi sau điều trị 3 tháng, 6 tháng và 1 năm cho thấy tỉ lệ không tái phát là trên 80%, sự khác biệt về tỉ lệ tái phát giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Vai trò điều hòa miễn dịch của cimetidin trong điều trị các bệnh da do virus đặc biệt là mụn cơm thường và sùi mào gà đã được báo cáo từ lâu. Trong nghiên cứu của chúng tôi, vai trò này chưa được thể hiện rõ. Hy vọng trong những nghiên cứu quy mô lớn hơn sau này, chúng tôi  sẽ tìm hiểu thêm đóng góp của cimetidin trong chuyên khoa da liễu.

Từ khóa: sùi mào gà, cimetidin, tái phát, điều trị.

I.            ĐẶT VẤN ĐỀ

Sùi mào gà là một bệnh lí lây truyền qua đường tình dục thường gặp. Bệnh do vi rút sinh u nhú ở người (Human papilloma virus-HPV) gây nên [1]. Nhiễm HPV hiện nay là một trong những vấn đề y học thời sự, vì mối liên quan của nó đến bệnh sùi mào gà sinh dục và ung thư cổ tử cung-một căn bệnh gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ; ngoài ra HPV còn liên quan đến các loại ung thư vùng sinh dục hậu môn khác [2]. Mặc dù có thể có nhiều týp HPV gây ra sùi mào gà nhưng 6 và 11 chiếm 90% số trường hợp [1]. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc nhiễm HPV là rất phổ biến trong người trẻ ở độ tuổi có hoạt động tình dục, nhưng thường không có triệu chứng và thoáng qua [3], [4]. Hầu hết những người nhiễm HPV liên quan đến sùi mào gà có thể tự khỏi rất nhanh mà không có phát triển thành mụn cơm hay triệu chứng khác. Vi rút này dễ lây truyền từ người này sang người khác khi mà họ không có biểu hiện lâm sàng [4]. Những týp HPV gây ra sùi mào gà thường không gây ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, bởi vì một người có thể nhiễm nhiều loại HPV khác nhau nên sự hiện diện của sùi mào gà không loại trừ được khả năng nhiễm HPV nguy cơ cao đã có sẵn.

   Hiện nay chưa có thuốc đặc trị điều trị bệnh SMG. Các phương pháp điều trị chủ yếu nhằm loại bỏ HPV như bôi thuốc, đốt điện, áp nitơ lỏng, phẫu thuật... Sử dụng một số loại thuốc tăng cường đáp ứng miễn dịch cũng được khuyến cáo. Tuy nhiên, kết quả điều trị còn hạn chế, tỷ lệ tái phát còn cao. Trong các thuốc có tác dụng điều hòa miễn dịch hỗ trợ điều trị phòng tái phát sùi mào gà, cimetidin là một thuốc phổ biến, giá thành tương đối rẻ, mà tác dụng chủ yếu của nó là ức chế tế bào thành dạ dày tiết acid giúp điều trị chứng ợ nóng và loét dạ dày [6]. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỉ gần đây, các nhà khoa học đã chứng minh được vai trò của cimetidin trong chuyên khoa da liễu, đặc biệt là trong điều trị sùi mào gà cũng như một số bệnh do virus gây ra như u nhú đường hô hấp, sùi mào gà, hạt cơm, u mềm lây…[5], [6].

    Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, số bệnh nhân đến khám bệnh do mắc bệnh SMG ngày càng nhiều, nhằm giúp bệnh nhân điều trị và ngăn ngừa tái phát căn bệnh này, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:

    Đánh giá hiệu quả của cimetidine trong phòng tái phát bệnh sùi mào gà tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng: Tất cả bệnh nhân bị sùi mào gà trong độ tuổi 15-69 đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương.

Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

+ Bệnh nhân nữ có thai, cho con bú.

+ Bệnh nhân bị mắc các bệnh mạn tính, hiểm nghèo hay rối loạn tâm thần theo chẩn đoán chuyên môn.

+ Bệnh nhân bị nhiễm HIV hoặc các bệnh lí gây suy giảm miễn dịch khác.

+ Bệnh nhân đang điều trị với các thuốc như phenytoin, theophyllin, thuốc chống đông và các thuốc điều hòa miễn dịch…

Thời gian nghiên cứu: tháng 3/2011 – tháng 6/2012.

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp, với thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên.

- Chọn mẫu nghiên cứu:

+ Nhóm can thiệp (nhóm 1): là tất cả những bệnh nhân sùi mào gà được điều trị bằng laser CO2 và uống thuốc cimetidine với liều 40mg/kg/24h trong 8 tuần gồm 32 bệnh nhân.

+ Nhóm so sánh hiệu quả (nhóm chứng-nhóm 2): là những bệnh nhân sùi mào gà chỉ điều trị bằng laser CO2 gồm 31 bệnh nhân.

+ Cỡ mẫu:

Cỡ mẫu nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng được tính bằng công thức:

Thay vào công thức, ta được m = 31

          Để tránh thất thoát bệnh nhân trong quá trình nghiên cứu, ta thêm vào 10% cho cỡ mẫu và làm tròn số thì cỡ mẫu cần lấy là 34 bệnh nhân.

- Chỉ tiêu nghiên cứu: đánh giá các chỉ số về thời gian điều trị, số lần đốt bằng laser CO2, tác dụng phụ khi uống  cimetidine, tái phát. Thời gian theo dõi sau điều trị là 12 tháng.

- Thu thập số liệu:

+ Phỏng vấn trực tiếp

+ Khám lâm sàng

+ Đánh giá kết quả điều trị tốt: tổn thương được đánh giá sau 2 tuần và theo dõi tái phát sau ba tháng, sáu tháng và một năm. Những lần điều trị bằng laser CO2 sau đó được thực hiện hai tuần một lần cho đến khi sạch hoàn toàn tổn thương. Cimetidin được chỉ định uống ngay ngày đầu tiên sau khi khám cùng với áp dụng thủ thuật laser CO2. Kết quả điều trị tốt là sau một lần điều trị không bị tái phát, không có biến chứng sau đốt bằng laser CO2 và không có tác dụng phụ do uống cimetidin.
-  Xử lí và phân tích số liệu: số liệu được nhập, quản lí bằng Microsoft excel và được phân tích bằng phần mềm Medcalc 2010.

- Đạo đức nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng được thực hiện theo đúng các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh và được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức Y học Bệnh viện Da liễu Trung ương.

III. KẾT QUẢ

1 Đặc điểm xã hội học của nhóm nghiên cứu

Trong thời gian từ 3/ 2011 đến tháng 6/2012, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 63 bệnh nhân mắc sùi mào gà được phân thành 2 nhóm: nhóm can thiệp (nhóm 1: laser CO2 + cimetidin uống với liều 40mg/kg/24h trong 8 tuần) gồm 32 bệnh nhân, nhóm chứng (nhóm 2: điều trị bằng laser CO2) gồm 31 bệnh nhân. Độ tuổi mắc bệnh của hai nhóm đều tập trung nhiều nhất vào khoảng từ 18 -39.

2 Khám lâm sàng

2.1 Hội chứng tiết dịch

Bảng 1. Hội chứng tiết dịch kèm theo

Hội chứng tiết dịch

Cimetidin & laser CO2

Laser CO2

 

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

 

 

P = 0.25> 0.05

26

81.25

19

61.29

Không

6

18.75

12

38.71

Tổng

32

100

31

100

 

 

Kết quả bảng 1 cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có hội chứng tiết dịch ở nhóm uống Cimetidin là 81.25%, nhóm chỉ điều trị bằng laser CO2 là 61.29%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Hội chứng tiết dịch nếu không được điều trị ổn định sẽ khiến bệnh sùi mào gà hay tái phát.  

2.3 Mức độ tổn thương sùi mào gà theo diện tích

Bảng 2. Mức độ tổn thương theo diện tích

 

Cimetidin & laser CO2

Laser CO2

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Nhẹ (<1 cm2)

14

43.75

23

74.19

 

P > 0.05

 

Trung bình (1<<3)

15

46.88

7

22.58

Nặng (3<<6)

3

9.38

1

3.23

Tổng

32

100

31

100

 

            Kết quả ở bảng 2 cho thấy  tỉ lệ thương tổn mức trung bình ở nhóm bệnh nhân có điều trị bằng cimetidin là nhiều nhất (46.88%). Trong khi đó, nhóm bệnh nhân chỉ điều trị bằng laser CO2 thì thương tổn đa phần ở mức nhẹ (74.19%). Sự khác biệt giữa các nhóm mức độ tổn thương không có ý nghĩa thống kê. 

2.4 Tổn thương sùi mào gà theo vị trí giải phẫu

Bảng 3. Mức độ tổn thương theo diện tích

 

Cimetidin & laser CO2

Laser CO2

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Tại chỗ (1 vị trí)

15

46.88

19

61.29

 

P > 0.05

Lan tỏa (lớn hơn 2 vị trí)

17

53.12

12

38.71

Tổng

32

100

31

100

 

Kết quả bảng 3 cho thấy thương tổn lan tỏa trong nhóm được uống cimetidin nhiều hơn (53.12%), ngược lại thương tổn tại chỗ chiếm ưu thế với 61.29% trong nhóm chỉ điều trị laser CO2 đơn thuần. Sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê.

3 So sánh điều trị giữa hai nhóm

3.1 Số lần điều trị bằng laser CO2

Bảng 4. Số lần điều trị laser CO2

 

    Trong nhóm điều trị laser CO2 phối hợp với uống cimetidin có 50% số bệnh nhân không tái phát sau khi thực hiện thủ thuật 1 lần, tuy nhiên có tới 34.38 % bệnh nhân thực hiện thủ thuật lần 2 và 15.62% bệnh nhân thực hiện lần 3. Đối với nhóm không uống cimetidin thì tỉ lệ lần lượt như sau: 64.52 %, 19.35% và 16.13%. Sự khác biệt nhận thấy không có ý nghĩa thống kê.

3.2 Tác dụng phụ: 100% bệnh nhân không có tác dụng phụ trong thời gian nghiên cứu.

4. Theo dõi tái  phát

     Tái phát được đánh giá khi bệnh nhân hoặc có tổn thương ở vị trí cũ với kích thước như trước hay lớn hơn hoặc xuất hiện tổn thương ở những vị trí khác. Kết quả theo dõi tỉ lệ bệnh nhân tái phát được trình bày ở những bảng sau:

 4.1 Sau 3 tháng

Bảng 5. Theo dõi tái phát sau 3 tháng

 

Cimetidin & laser CO2

Laser CO2

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Có tái phát

6

18.75

4

12.9

P > 0.05

 

Không tái phát

26

81.25

26

87.1

Tổng

32

100

31

100

 

Bảng 5 cho thấy tỉ lệ tái phát ở nhóm có uống cimetidin là 18.75% so với 12.9% ở nhóm không uống cimetidin. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

4.2. Kết quả sau 6 tháng

Bảng 6. Theo dõi tái phát sau 6 tháng

 

Cimetidin & CO2

Laser CO2

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Có tái phát

0

0

3

9.68

 

P > 0.05

Không tái phát

32

100

28

90.32

Tổng

32

100

31

100

 

            Sau 6 tháng theo dõi thì nhóm có uống cimetidin không có trường hợp nào tái phát và nhóm không uống cimetidin có 3 bệnh nhân tái phát chiếm 9.68%. Sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê.

4.3 Kết quả sau 12 tháng

Bảng 7. Theo dõi tái phát sau 12 tháng

 

Cimetidin & laser CO2

Laser CO2

P

SL

Tỉ lệ (%)

SL

Tỉ lệ (%)

Có tái phát

1

3.13

1

3.23

 

p> 0,05

Không tái phát

31

96.87

30

96.77

Tổng

32

100

31

100

 

Sau 12 tháng theo dõi thì ở cả hai nhóm đều có 1 bệnh nhân tái phát với tỉ lệ 3.13% ở nhóm có uống cimetidin và 3.23% ở nhóm không uống. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

IV.         BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả điều trị được đánh giá là tốt chỉ sau một lần thực hiện thủ thuật laser CO2 mà không có biến chứng và không tái phát. Ở nhóm bệnh nhân chỉ được điều trị bằng laser CO2 có tỉ lệ điều trị tốt cao hơn so với nhóm có uống cimetidin. Điều này chưa thể nói lên điều gì khi những bệnh nhân trong nhóm uống cimetidin chỉ mới uống được 2 tuần, và khả năng chống tái phát của bệnh nhân còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là vị trí, kích thước, số lượng thương tổn, các bệnh lí lây truyền qua đường tình dục đi kèm cũng như kinh nghiệm của thầy thuốc và tình trạng miễn dịch của bệnh nhân.

Theo Azizjalali M, Ghaffarpour GH, Mousavifard B, các bệnh nhân của họ chỉ cần một lần được thực hiện laser COthì thương tổn đã sạch [7]. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, theo bảng 4, ở cả hai nhóm nghiên cứu, số bệnh nhân phải điều trị laser CO2  lần hai, lần 3 hoặc hơn cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ. Điều này có thể liên quan đến tình trạng miễn dịch của bệnh nhân. Tất cả những thủ thuật này đều được thực hiện trong vòng 3 tháng sau lần điều trị đầu tiên.

Bảng 5, 6 và bảng 7 cho thấy tỉ lệ tái phát sùi mào gà sau điều trị 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh nhân được uống cimetidin kèm thủ thuật laser CO2  thì tỉ lệ tái phát ít hơn so với nhóm chỉ điều trị bằng laser CO2, tuy nhiên sự khác biệt quan sát được không làm nổi bật vai trò chống tái phát bệnh sùi mào gà của cimetidin. Mặc dù cimetidin được biết đến với hiệu quả điều hòa miễn dịch do ngăn cản tế bào T ức chế, tạo điều kiện cho miễn dịch qua trung gian tế bào [5], [6] và vai trò này cũng đã được thể hiện qua nhiều nghiên cứu ứng dụng của cimetidin trong điều trị hạt cơm thường, u nhú đường hô hấp cũng, sùi mào gà như các bệnh da do virus khác như herpes simplex, u mềm lây…

Nghiên cứu của Franco I. (2000) trên bốn trẻ bị sùi mào gà sinh dục và hậu môn lan tỏa cho kết quả rất tốt, liều cimetidin 30-40mg/kg/ngày; sạch tổn thương và được theo dõi hai năm sau điều trị thì tất cả những bệnh nhân này đều không tái phát [8]. Các tác giả cũng nhận thấy rằng cimetidin là lựa chọn đầu tay trong điều trị hạt cơm sinh dục và quanh hậu môn ở trẻ em khi các phương pháp khác chưa phù hợp để áp dụng [9], [10]. Tuy nhiên để chứng minh vai trò của cimetidin trong điều trị chống tái phát sùi mào ở người lớn có lẽ cần nhiều nghiên cứu hơn nữa.

Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân uống cimetidin với liều 40mg/kg/24h ( liều uống cao nhất của bệnh nhân chúng tôi là 2800mg/24h) trong thời gian 8 tuần đều không có tác dụng phụ gì xảy ra, điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Sabesin. Theo S.M. Sabesin, nếu uống cimetidine kéo dài với liều >5g/ngày mới có thể gây bất lực và chứng vú to ở nam giới [11]. Cho đến nay, cimetidin có lẽ là một loại thuốc đơn giản, giá thành thấp, dễ kiếm lại có nhiều nghiên cứu cho thấy có vai trò điều hòa và phục hồi miễn dịch trong các bệnh da do virus, bệnh da miễn dịch nói chung và sùi mào gà nói riêng. Do vậy, để phục vụ cho những bệnh nhân mắc bệnh vì hoàn cảnh khó cho phép tiếp cận với những thuốc điều hòa miễn dịch giá cao thì cimetidin có lẽ là một lựa chọn khá phù hợp trong việc giúp ngăn ngừa sự tái phát sùi mào gà, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ. Mặc dù vậy, việc cần có những nghiên cứu thêm nữa về vai trò của cimetidin trong điều trị bệnh sùi mào gà ở người là cần thiết.

V.           KẾT LUẬN

- Tỉ lệ điều trị tốt của nhóm bệnh nhân chỉ được áp dụng thủ thuật laser CO2 là 64.52% và nhóm được uống kèm cimetidin là 50%.

- 100% bệnh nhân uống cimetidin không có tác dụng phụ

- Sau 3 tháng theo dõi, tỉ lệ tái phát của nhóm 1 là 18.75%, nhóm 2 là 12.79%, sau 6 tháng thì nhóm 1 không có bệnh nhân tái phát, nhóm 2 có 9.68% và sau 1 năm thì tỉ lệ tái phát của 2 nhóm lần lượt là 3.13% và 3.23%.

- Vai trò chống tái phát của cimetidin trong điều trị sùi mào gà chưa rõ ràng, cần có nhiều nghiên cứu hơn để đánh giá và áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên vẫn có thể áp dụng trên bệnh nhân bị sùi mào hay tái phát vì cimetidin là một thuốc được chứng minh có vai trò điều hòa miễn dịch mà giá thành thấp, phù hợp với đa số người bệnh có điều kiện kinh tế không cao như ở Việt Nam.

Lời cảm ơn: Chúng tôi chân thành cảm ơn quý bệnh nhân đã tự nguyện tham gia nghiên cứu, cảm ơn khoa Xét nghiệm và khoa D1 Bệnh viện Da liễu Trung ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi tiến hành thử nghiệm lâm sàng này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.            A. Handisurya, C. Schellenbacher, R. Kirnbauer, (2009): Diseases caused by human papillomaviruses (HPV), Journal der Deutschen Dermatologischen Gesellschaft, Volume 7, Issue 5, 453–466.

2.            Alwyn Rapose (2009): Human papillomavirus and genital cancer, Indian Journal of Dermatology, Venereology and Leprosy, vol 75, issue 3, p:236-244.

3.            Anna-Barbara Moscicki (2007): HPV infections in adolescents, Journal of Cancer Volume 127, Issue 12,  2831–2840.

4.            Bethany A. Weaver (2006): Epidemiology and Natural History of Genital Human Papillomavirus Infection, Epidemiology and Natural History of HPV Infection, Vol 106, • No 3.

5.            Aram H (April 1987): Cimetidin in dermatology, International Journal of Dermatology 26 (3): 161–66. 

6.            Scheinfeld N (March 2003): Cimetidine: a review of the recent     developments and reports in cutaneous medicine, Dermatol. Online J. 9 (2): 4.

7.            Azizjalali M, Ghaffarpour GH, Mousavifard B (2012): CO2 Laser therapy versus cryotherapy in treatment of genital warts; a Randomized Controlled Trial (RCT), Iranium Journal of Mcrobiology, Volume 4 Number 4: 187-190.

8.            Culton DA, Morrell DS, Burkhart CN (Jul 2009): The management of condyloma acuminata in the pediatric population, Pediatr Ann. 38(7):368-72.

9.            Fit KE, Williams PC (July 2007): Use of histamine2-antagonists for the treatment of verruca vulgaris. Ann Pharmacother 41 (7): 1222–6.

10.         Franco I (2000): Oral cimetidine for the management of genital and perigenital warts in children, J URol, 164(3):1074-5.

11.         Sabesin SM (1993): Safety issues relating to long-term treatment with histamine H2-receptor antagonists, Aliment Pharmacol Ther. 7 Suppl 2: 35–40.

SUMMARY

THE EFFECT OF CIMETIDINE IN PREVENTING RELAPSE OF GENITAL WARTS

Objective: To evaluate the effect of cimetidine in relapse prevention in patients with genital warts compared with CO2 laser therapy merely.

Methods: A randomized controlled clinical trial. 63 patients were divided into 2 groups: group 1: 32 patients were treated with CO2 laser in collaboration with oral cimetidine 40mg/kg/24h dose for 8 weeks,  group 2: 31 patients were treated with CO2 laser.

Results: The healing rate after one treatment with CO2 laser for the two groups is respectively 64.52% and 50%. Monitoring after treatment 3 months, 6 months and one year showed no relapse rate is over 80%, the difference in recurrence rates between the 2 groups is not statistically significant.

Conclusion: Immunomodulatory role of cimetidine in the treatment of virus - induced skin diseases, especially genital warts and common warts, have been reported . In our study, this role has not been clearly shown. May be in the future familiar studies, we will clarify the contributions of cimetidine in dermatology.

    Key words: genital warts, cimetidine, relapse, treatment.

 

          Hà Nguyên Phương Anh, Trần Hậu Khang, Nguyễn Duy Hưng
Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng

Bài viết được trích trong Tạp chí Da liễu số 16

 

 Sùi mào gà, cimetidin,  trị liệu laser CO2 

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)