Đánh giá hiệu quả điều trị Hori’s nevus bằng Laser Yag q-switched
(16:30 | 03/08/2015)
  - Biểu hiện lâm sàng của bệnh là những đám sắc tố màu nâu hoặc đen vùng mặt, thường gặp ở hai bên má, nếu không được điều trị người bệnh sẽ phải mang đám tăng sắc tố suốt đời, ngày càng đậm lên và lan rộng trên mặt, vì thế nevus Hori ảnh hưởng rất nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của người bệnh.

 Tóm tắt:                                                                                                                                

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị Hori’s nevus bằng Laser  Yag q-switched (QS Yag)

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng so sánh trước sau điều trị trên 24 bệnh nhân

Kết quả: sau 5 lần điều trị nevus hori bằng laser QS Yag: 70,8%  đạt kết quả mức tốt,  16,7% mức trung bình, 12,5% đạt mức kém . 58,3% bệnh nhân tăng sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị. 87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị.

Kết luận: Điều trị  Hori’s nevus bằng laser QS Yag đạt kết quả cao, an toàn.

Từ khóa: laser Yag q-switched, Hori’s nevus

I. Đặt vấn đề:

Hori’s nevus là một rối loạn sắc tố mắc phải được tác giả Hori mô tả lần đầu tiên vào năm 1984. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là những đám sắc tố màu nâu hoặc đen vùng mặt, thường gặp ở hai bên má, nếu không được điều trị người bệnh sẽ phải mang đám tăng sắc tố suốt đời, ngày càng đậm lên và lan rộng trên mặt, vì thế nevus Hori ảnh hưởng rất nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của người bệnh. Điều trị nevus Hori là nhu cầu chính đáng và hết sức cấp thiết.

Điều trị nevus Hori hiện nay thường dùng các loại laser q-switched (QS) như QS Yag, QS Ruby, QS Alexandrite,.. trong đó laser QS Yag được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây. Tuy nhiên tại Việt Nam điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag vẫn là một kỹ thuật mới và chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả của kỹ thuật này trong điều trị nevus Hori được công bố. vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: “Đánh giá hiệu quả điều trị nevus Hori  bằng Laser Yag q-switched”

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu

24 bệnh nhân nevus Hori  điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội 1/2012-5/2013.

Tiêu chuẩn chẩn đoán nevus Hori: : là những đốm, đám sắc tố màu nâu hoặc đen vị trí vùng mặt, thường gặp hai bên má, có tính chất đối xứng.

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân tuổi 20-60; được chẩn đoán Hori’s nevus, điều trị đủ liệu trình, bệnh nhân không đang dùng các thuốc làm da nhạy cảm ánh sáng, không mắc các bệnh ác tính hoặc nội khoa trầm trọng.

2. phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứutiến cứu, thử nghiệm lâm sàng, tự so sánh trước và sau điều trị.

Cỡ mẫu: mẫu thuận tiện, lấy toàn bộ những bệnh nhân đủ các tiêu chuẩn: n=24

Thiết bị và vật liệu nghiên cứu:  laser QS Yag, máy ảnh, bảng màu Voluchan, ..

Các bước tiến hành:

Khám, tư vấn bệnh nhân, chụp ảnh, làm hồ sơ theo dõi

Xác định liệu trình và tiến hành điều trị. Chăm sóc, theo dõi sau điều trị

Phác đồ điều trị :

Liệu trình điều trị 5 lần, khoảng cách giữa 2 lần điều trị 4-8 tuần, bước sóng 1064nm, mật độ năng lượng 300-500mj, kích thước chùm tia 3mm, điểm cuối lâm sàng rớm máu nhẹ

chăm sóc sau điều trị:

Sau điều trị bệnh nhân bôi Fucidine 6-7 ngày. kem chống nắng SPF 50 bôi sáng 1 lần, trưa 1 lần, bôi kéo dài đến lần điều trị tiếp theo.

Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị:

Đánh giá kết quả sau 5 lần điều trị dựa vào khám, so sánh ảnh trước sau điều trị (ảnh chụp thực hiện trên cùng một máy ảnh, bệnh nhân được chụp ở cùng một tư thế). Đánh giá hiệu quả điều trị thực hiện bởi bác sỹ  không thuộc nhóm nghiên cứu và đánh giá của chính bệnh nhân. Đánh giá hiệu quả chung dựa trên sự thay đổi kích thước, màu sắc nevus Hori. Thay đổi kích thước thực hiện bằng đo diện tích thương tổn trước, sau điều trị. Thay đổi màu sắc dựa trên đánh giá của bệnh nhân, bác sỹ không thuộc nhóm nghiên cứu. Chia ra các mức độ:

Đánh giá

Mức cải thiện

Tốt

≥ 70%

Trung bình

50-69%

kém

30-49%

Không đáp ứng

< 30%

Đánh giá tác dụng phụ, biến chứng  điều trị: đau, ban đỏ, sẹo, tăng sắc tố, giảm sắc tố

Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

III. Kết quả

Bảng 1. Kết quả điều trị nevus Hori sau 5 lần điều trị (n=24)

              

Kết quả

n

%

Tốt ( > 70%)

17

70,8

Trung bình (50-70%)

4

16,7

Kém (30-49%)

3

12,5

Không đáp ứng ( <30%)

0

0

Tổng

24

100

          Nhận xét: sau 5 lần điều trị 70,8% bệnh nhân nevus hori đạt mức cải thiện tốt 

Bảng 2.  Tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị (n=24)

 

Tác dụng không mong muốn

n

%

Đau rát

24

100

Rớm máu, nề

24

100

Tăng sắc tố

14

58,3

Giảm sắc tố

0

0

Tạo sẹo

0

0

          Nhận xét: 58,3% bệnh nhân có biểu hiện tăng sắc tố trong quá trình điều trị

Bảng 3. Mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả điều trị (n=24)

Mức độ hài lòng

n

%

Rất hài lòng

14

58,3

Hài lòng

7

29,2

Chưa hài lòng

3

12,5

Tổng

24

100

          Nhận xét: 87,5% bệnh nhân hài lòng và rất hài lòng với kết quả điều trị

IV. Bàn luận

          Nevus Hori được mô tả từ năm 1984 bởi tác giả Hori sau đó lấy tên ông là Nevus Hori, căn nguyên bệnh vẫn chưa rõ ràng nhưng một số tác giả cho rằng nevus hori là một biến thể của nevus Ota, trong khi đó một số tác giả khác ghi nhận nevus hori có liên quan đến nội tiết và sự lão hóa (thường xuất hiện và tăng lên ở phụ nữ sau sinh, lớn tuổi), đồng thời bệnh cũng chịu ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời.[ 2]

          Trước đây điều trị nevus hori kết quả không cao, công nghệ laser q-switched ra đời đã tạo ra bước đột phá trong điều trị nevus hori. Trong số các loại laser QS thông dụng điều trị nevus hori, laser QS Yag được coi là loại laser điều trị hiệu quả, ít tác dụng phụ, chi phí đầu tư thấp. Tại Việt Nam, laser QS Yag cũng là loại laser QS phổ biến nhất. chính vì thế chúng tôi lựa chọn  đánh giá hiệu quả điều trị nevus hori bằng laser QS Yag.  Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả sau 5 lần điều trị nevus hori bằng laser QS Yag: 70,8%  bệnh nhân đạt kết quả mức tốt, mức cải thiện trung bình là 16,7%, có 12,5% đạt mức kém. Theo nghiên cứu của Woo Jin Lee 76% bệnh nhân có kết quả điều trị tốt sau 3-5 lần điều trị, nếu được điều trị >6 lần, tỷ lệ tốt là 90% [5]. Somyos Kunachak khi nghiên cứu 68 bệnh nhân nevus hori người Thái Lan nhận thấy sau 2 lần điều trị 50% bệnh nhân có cải thiện mức tốt, sau liệu trình điều trị ≥ 6 lần 100% bệnh nhân đạt kết quả cải thiện  ≥ 70% [3]. Theo Yoon Jee Kim > 80% nevus hori điều trị laser QS Yag đạt cải thiện mức tốt trở lên[4]. Kết quả nghiên cứu giữa các tác giả có thể khác nhau về tỷ lệ % cụ thể nhưng có một điểm chung là tỷ lệ thành công trong điều trị rất cao, đồng thời cũng phản ánh điều trị  nevus hori bằng laser QS Yag kết quả tăng dần sau mỗi lần điều trị và càng nhiều lần, kết quả càng tốt. chúng tôi cho rằng điều này rất có ý nghĩa với bệnh nhân, nhất là với những trường hợp kiên trì trong điều trị, đồng thời cũng giúp các bác sỹ đưa ra được sự tư vấn, phác đồ điều trị, tiên lượng phù hợp nhất cho từng bệnh nhân cụ thể. Chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân của sự khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu là đối tượng bệnh nhân trong các nghiên cứu khác nhau. Những bệnh nhân thương tổn đậm, rộng sẽ đáp ứng điều trị chậm hơn và cần nhiều lần điều trị hơn bệnh nhân thương tổn nhẹ. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những nghiên cứu đối chiếu giữa kết quả điều trị với mức độ nặng của bệnh trên lâm sàng và hình ảnh mô bệnh học.

          Đánh giá tác dụng không mong muốn cũng như biến chứng sau điều trị nevus hori bằng laser QS Yag là hết sức cần thiết nhằm xem xét độ an toàn của phương pháp điều trị, đây cũng là mối quan tâm lớn của các bác sỹ điều trị lâm sàng. Theo tác giả Bangjin Lee: 63,8% bệnh nhân có hiện tượng tăng sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị[1], tỷ lệ này trong nghiên cứu của  Woo Jin Lee là 40% [5],  nghiên cứu của Somyos Kunachak báo cáo tỷ lệ tăng sắc tố là 50% [3]. Tăng sắc tố tạm thời là tác dụng phụ thường được mô tả trong các báo cáo, các biến chứng khác như giảm sắc tố hoặc sẹo rất ít xảy ra. Theo kết quả của chúng tôi tăng sắc tố tạm thời gặp ở 58,3% bệnh nhân trong quá trình điều trị. Tăng sắc tố thường xuất hiện 2 tuần sau điều trị laser, giảm hoặc biến mất sau 4-6 tuần. Thuốc bôi chúng tôi khuyến cáo bệnh nhân sử dụng là Hydroquinone (Domina) và kem chống nắng. Không có trường hợp nào tăng sắc tố vĩnh viễn, tạo sẹo hoặc giảm sắc tố trong nghiên cứu của chúng tôi. Như vậy các nghiên cứu đều cho thấy tăng sắc tố là tác dụng phụ rất thường gặp trong điều tri nevus hori bằng laser QS Yag. Tuy nhiên tăng sắc tố chỉ là tạm thời, nó sẽ biến mất, không để lại biến chứng nào sau khi kết thúc điều trị. Điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được trong điều trị nevus hori. Các tác dụng không mong muốn khác như đau rát, rớm máu, xưng nề  gặp ở tất cả bệnh nhân nhưng biến mất sau 1-3 ngày điều trị mà không để lại di chứng gì. Điều đó chứng tỏ laser QS Yag thật sự an toàn, hiệu quả trong điều trị nevus hori.

Với những điều trị mang tính thẩm mỹ như nevus hori, sự hài lòng của người bệnh là một tiêu chí đánh giá mức độ thành công điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi  87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị.      

V. Kết luận

Điều trị nevus hori bằng laser QS Yag, sau 5 lần điều trị: tất cả các bệnh nhân đều có cải thiện trong đó 70,8%  đạt kết quả mức tốt,  16,7% mức trung bình, 12,5% đạt mức kém . 58,3% bệnh nhân có tăng sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị. 87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị.

VI. Kiến nghị

Điều trị nevus hori bằng laser QS Yag nên được áp dụng tại các cơ sở điều trị, liệu trình ít nhất 5 lần. Bs.  Nguyễn Thế Vỹ

Bệnh viện Da liễu Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.    Bangjin Lee(2004). “Comparison of Characteristics of Acquired Bilateral Nevus of Ota-like Macules and Nevus of Ota According to Therapeutic Outcome”.  J Korean Med Sci. 2004 August; 19 (4) : 554–559.

2.    Park JM , Tsao H , Tsao S (2009). “Acquired bilateral nevus of Ota-like macules (Hori nevus): etiologic and therapeutic considerations”. J Am Acad Dermatol. 2009 Jul;61(1):88-93.

3.    Somyos Kunachak, Panadda Leelaudomlipi (2000). “Q-Switched Nd:YAG Laser Treatment for Acquired Bilateral Nevus of Ota-Like Maculae: A Long-Term Follow-Up”. Lasers in Surgery and Medicine 26:376–379

4.    Yoon Jee Kim , MD, Kyu Uang Whang(2012). “Efficacy and Safety of 1,064 nm Q-switched Nd:YAG Laser Treatment for Removing Melanocytic Nevi”. Ann Dermatol. 2012 May; 24 (2) : 162–167.

5.    Woo Jin Lee , Seung Seog Han (2009). “ Q-Switched Nd:YAG Laser Therapy of Acquired Bilateral Nevus of Ota-like Macules”. Ann Dermatol. 2009 August; 21 (3) : 255–260

 

 

 

Mộ

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)