Đánh giá kết quả điều trị giảm ngữa bằng phối hợp Amitriptylin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh
(13:40 | 27/07/2015)
 - Bệnh sẩn ngứa nội sinh thường do các rối loạn trong cơ thể như bị bệnh gan, thận, rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường, tăng mỡ máu.

 TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm ngứa của amitriptylin trong điều trị sản ngứa nội sinh. Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, cỡ mẫu thuận tiện gồm 58 bệnh nhân được chẩn đoán là ngứa nội sinh, điều trị tại khoa Da liễu-Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ 10/2012 đến 05/2013, chia 2 nhóm. Nhóm nghiên cứu 24 bệnh nhân: uống amitriptylin 25mg vào buổi tối phối hợp với uống loratadin 10mg/ngày. Nhóm đối chứng 23 bệnh nhân uống loratadin 10mg/ngày. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng amitriptylin phối hợp với loratadin có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa sau 6 giờ chiếm 70,0%, cao hơn nhóm đối chứng dùng loratadin đơn thuần (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Sau 9 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 60,0%, cao hơn so với nhóm đối chứng (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Các tác dụng không mong muốn như buồn ngủ, chóng mặt, tăng cân, run đầu chi, khô miệng, rối loạn tiêu hóa gặp ở cả hai nhóm; nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05, ...và p>0,05); không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị. Kết luận: amitriptylin có tác dụng giảm ngứa khi phối hợp điều trị với loratadin trong bệnh sẩn ngứa nội sinh; có thể gặp một số tác dụng không mong muốn nhưng không phải ngừng điều trị. Từ khóa: amitriptylin, loratadin, ngứa nội sinh, thuốc an thần, tác dụng không mong muốn.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sẩn ngứa nội sinh thường do các rối loạn trong cơ thể như bị bệnh gan, thận, rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường, tăng mỡ máu [4], [5]. Nhiều trường hợp không xác định được căn nguyên. Bệnh dai dăng hay tái phát, điều trị gặp nhiều khó khăn. Ngứa nhiều làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Điều trị ngứa thường dùng các kháng histamin, nhưng không phải trường hợp nào cũng đạt được hiệu quả mong muốn. Ngày nay, nhiều nghiên cứu thấy ở ngứa ngoài vai trò của các chất trung gian hóa học còn liên quan đến sự dẫn truyền thần kinh [3]. Amitriptylin là thuốc chống trầm cảm, cấu trúc ba vòng, có tác dụng chống tiết cholin và an thần. Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu sử dụng thuốc chống trầm cảm (amitriptylin, clomipramin, doxepin) để điều trị ngứa mạn tính thấy có hiệu quả [6]. Để có thêm kinh nghiệm sử dụng amitriptylin, chúng tôi tiến hành đề tài đánh giá tác dụng giảm ngứa và tác dụng không mong muốn của amitriptylin trong điều trị ngứa nội sinh. Mục tiêu của đề tài:

Đánh giá tác dụng giảm ngứa của amitriptylin trong điều trị ngứa nội sinh tại Khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

II. ĐỐI TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

Gồm 58 bệnh nhân ngứa nội sinh, được điều trị tại Khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

- Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân được chẩn đoán xác định ngứa nội sinh từ 18 tuổi trở lên.

- Tiêu chuẩn loại trừ: ngứa do những rối loạn tại da, phụ nữ có thai, suy gan thận, suy giảm miễn dịch, chống chỉ định amitriptylin.

2. Thời gian nghiên cứu: từ 10/2012 đến 10/2013.

3. Địa điểm nghiên cứu: Khoa Da liễu, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

4. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, tiến hành trên hai nhóm bệnh nhân.

- Cỡ mẫu và chọn mẫu: cỡ mẫu thuận tiện, chọn mẫu ngẫu nhiên.

- Kỹ thuật nghiên cứu:

 Nhóm nghiên cứu: Bệnh nhân được điều trị bằng uống amitriptylin 25mg vào buổi tối phối hợp với loratadin uống 10mg/ngày.

Nhóm đối chứng: Bệnh nhân chỉ uống loratadin 10mg/ngày.

Điều trị tại chỗ: cả hai nhóm bệnh nhân đều được bôi các chế phẩm có chứa corticoid.

- Đánh giá mức độ giảm ngứa:

+ Thời gian bắt đầu có tác dụng: từ khi uống thuốc đến khi bệnh nhân cảm thấy ngứa bắt đầu giảm.

+ Thời gian duy trì tác dụng: từ khi xuất hiện tác dụng giảm ngứa đến khi ngứa tái phát.

+ Đánh giá mức độ ngứa tại các thời điểm sau: 3, 6, 9 ngày.

+ Đánh giá kết quả điều trị chung theo 3 mức:

Tốt:               hết ngứa, tác dụng kéo dài.

                    Trung bình:   ngứa giảm chậm, tác dụng ngắn.

Chưa tốt:       ngứa không giảm.

+ Xác định tác dụng không mong muốn của mỗi phương pháp.

- Chỉ tiêu nghiên cứu:

+ Tỷ lệ bệnh nhân thấy thuốc có tác dụng giảm ngứa theo thời gia(30 phút,... > 3giờ).

+ Tỷ lệ bệnh nhân thấy tác dụng duy trì giảm ngứa của thuốc theo thời gian.

+ Tỷ lệ bệnh nhân có các mức độ ngứa sau 3, 6, 9 ngày điều trị.

+ Kết quả điều trị chung.

+ Tác dụng không mong muốn của thuốc

5. Xử lý số liệu: theo phương pháp thống kê y học, dựa trên phần mềm STATA 10.0.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1. Phân bố bệnh nhân theo giới

          Bệnh

Giới

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

Nam

22

73,3

16

57,1

>0,05

Nữ

8

26,7

12

42,9

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Qua bảng 1 ta thấy phân bố bệnh theo giới giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng chưa có sự khác biệt (p>0,05 và p>0,05).

Bảng 2. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

          Bệnh

Tuổi

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

<50

4

13,3

1

3,6

>0,05

50-60

5

16,7

6

21,4

>0,05

>60

21

70,0

21

75,0

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Qua bảng 2 ta thấy phân bố bệnh theo các độ tuổi < 50, 50-60, >60 đều chưa thấy sự khác biệt giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng (p>0,05,…và p>0,05).

Bảng 3. Phân bố bệnh nhân theo tuổi bệnh (thời gian bị bệnh)

          Bệnh

Tuổi bệnh

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

P

SL

%

SL

%

< 6 tháng

13

43,3

7

25,0

>0,05

³ 6 tháng

17

56,7

21

75,0

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Qua bảng 3 ta thấy phân bố bệnh theo thời gian bị bệnh < 6 tháng và > 6 tháng giữa hai nhóm chưa thấy có sự khác biệt (p>0,05 và p>0,05).

 

Bảng 4. Mức độ ngứa của bệnh nhân khi vào viện

Mức

độ ngứa

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

P

SL

%

SL

%

Nặng

15

62,5

13

56,5

>0,05

Vừa và nhẹ

9

37,5

10

43,4

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

 Nhận xét: Qua bảng 4 ta thấy phân bố bệnh theo mức độ ngứa giữa hai nhóm nghiên cứu và đối chứng chưa có sự khác biệt (p>0,05 và p>0,05).

 

Bảng 5.  Thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa

Thời gian sau dùng thuốc

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

30 phút

9

30,0

5

17,9

>0,05

1giờ

16

53,3

14

50,0

>0,05

2 giờ

1

3,3

6

21,4

>0,05

3 giờ

2

6,7

2

7,1

>0,05

>3 giờ

2

6,7

1

3,6

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân thấy bắt đầu có tác dụng giảm ngứa theo các mốc thời gian từ 30 phút đến >3h giữa 2 nhóm chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p>0,05,… và p>0,05).

 

Bảng 6. Tỷ lệ bệnh nhân thấy tác dụng giảm ngứa được duy trì

́Thời gian sau dùng thuốc

Nhóm  NC (n=30

Nhóm  ĐC (n=28)

p

SL

%

SL

%

3-4 giờ

30

100,0

28

100,0

>0,05

4-5 giờ

25

83,3

19

67,9

>0,05

>6 giờ

21

70,0

8

28,6

<0,05

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa của thuốc >6h ở nhóm nghiên cứu (70,0%), cao hơn nhóm đối chứng (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05).

 

Bảng 7. Mức độ ngứa của bệnh nhân sau 6 ngày điều trị

́ Mức độ ngứa

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

Nặng

0

0,0

0

0,0

Vừa

9

30,0

18

64,3

>0,05

Nhẹ

16

53,3

8

28,6

>0,05

Hết ngứa

5

16,7

2

7,1

>0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Sau 6 ngày điều trị, ở cả hai nhóm đều không còn bệnh nhân bị ngứa nặng. Tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa nhóm nghiên cứu là 16,6%, nhóm đối chứng là 7,1% nhưng chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Bảng 8.  Mức độ ngứa của bệnh nhân sau 9 ngày điều trị

́Mức độ ngứa

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

Nặng

0

0,0

0

0,0

Vừa

2

6,7

4

14,3

>0,05

Nhẹ

10

33,3

16

57,1

>0,05

Hết ngứa

18

60,0

5

28,6

<0,05

Tổng số

30

100,0

28

100,0

Nhận xét: Sau 9 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 60,0%, cao hơn so với nhóm chứng (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05).

 

Bảng 9. So sánh kết quả điều trị chung giữa hai nhóm

Mức độ ngứa

Nhóm  nghiên cứu

Nhóm  đối chứng

p

SL

%

SL

%

Tốt

25

83,3

19

67,9

>0,05

Trung bình

5

16,7

9

32,1

>0,05

Chưa tốt

0

0,0

0

0,0

Tổng số

30

100,0

28

100,0

 Nhận xét: Sau điều trị, nhóm nghiên cứu kết quả giảm ngứa đạt mức độ tốt là 83,3%, cao hơn nhóm đối chứng (67,9%); tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (với p>0,05).

Bảng 10. Tác dụng không mong muốn của thuốc

Nhóm

 

Tác dụng phụ

Nhóm NC (n=30)

Nhóm ĐC (n=28)

p

SL

%

SL

%

Buồn ngủ

17

56,7

12

42,9

>0,05

Chóng mặt

3

10,0

1

3,6

>0,05

Run đầu chi

3

10,0

1

3,6

>0,05

Tăng cân

2

6,7

0

0,0

>0,05

Rối loạn tiêu hóa

1

3,3

2

7,1

>0,05

Tác dụng khác (khô miệng, mệt mỏi,…)

8

26,7

11

39,3

>0,05

Nhận xét: một số tác dụng không mong muốn thấy ở cả hai nhóm như: buồn ngủ, chóng mặt, run đầu chi, rối loạn tiêu hóa, tăng cân, khô miệng, bí tiểu, mệt mỏi.

IV. BÀN LUẬN

Ngứa là một triệu trứng cơ năng, và cũng là triệu chứng chính cần phải can thiệp trong ngứa nội sinh. Mức độ ngứa nặng hay nhẹ cũng phụ thuộc vào cảm giác chủ quan của mỗi cá thể [4]. Kết quả nghiên cứu (bảng 5) cho thấy thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa ở cả hai nhóm sau 30 phút dùng thuốc đều có một số bệnh nhân bắt đầu giảm ngứa. Tỷ lệ bệnh nhân bắt đầu giảm ngứa tăng lên theo thời gian. Cho tới 3 giờ sau khi dùng thuốc thì hầu hết bệnh nhân đều nhận thấy giảm ngứa; tuy nhiên sự khác biệt về thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa ở hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa là khoảng thời gian từ khi thấy bắt đầu giảm ngứa đến khi ngứa tái phát. Kết quả bảng 6 cho thấy thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa của thuốc thay đổi theo từng bệnh nhân. Sau 3-4giờ, thuốc vẫn còn tác dụng giảm ngứa với tỷ lệ 100% bệnh nhân ở cả hai nhóm; sau 4-5giờ, nhóm nghiên cứu là 83,3% cao hơn nhóm chứng (67,9%). Tiếp tục theo dõi sau 6 giờ thì thấy tỷ lệ bệnh nhân vẫn  thấy còn giảm ngứa ở nhóm nghiên cứu là 70%, cao hơn nhóm chứng (28,6%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p>0,05).. Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa ở nhóm bệnh nhân dùng amitriptylin kéo dài hơn so với nhóm chứng. Giải thích kết quả này, chúng tôi cho rằng có thể do  tác dụng an thần của amitriptylin vào đường dẫn truyền thần kinh nên làm thay đổi nhận thức và hành vi của bệnh nhân về ngứa. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Demierre & Taverna khi sử dụng gabapentin (thuốc chống động kinh) và mirtazapin (chống trầm cảm) cho bệnh nhân bị u lympho T ở da cũng thấy có hiệu quả giảm ngứa tương tự [1].

Kết quả nghiên cứu ở bảng 7 cho thấy sau 6 ngày điều trị ở cả hai nhóm nghiên cứu và đối chứng đều không còn bệnh nhân bị ngứa nặng. Tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa nhóm nghiên cứu là 16,7%, cao hơn nhóm đối chứng (7,1%), nhưng chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả sau 9 ngày điều trị (bảng 3.8), tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 60,0%, cao hơn ở nhóm đối chứng (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05).

Kết quả điều trị chung (bảng 9) cho thấy sau 9 ngày ở nhóm nghiên cứu đạt kết quả tốt là 83,3%, cao hơn nhóm đối chứng (67,9%) nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Điều này có thể là do cỡ mẫu của chúng tôi còn chưa đủ lớn. Chúng tôi chưa tham khảo được tài liệu nào nói về việc phối hợp amitriptylin trong điều trị bệnh ngứa nội sinh nên chưa có số liệu để so sánh với kết quả nghiện cứu của mình. Tuy nhiên, bước đầu kết quả nghiên cứu cho thấy việc phối hợp amitriptylin trong điều trị giảm ngứa trên lâm sàng là có hiệu quả.

Về tác dụng không mong muốn: Kết quả bảng 10 cho thấy trong quá trình điều trị ở cả hai nhóm đều gặp một số tác dụng không mong muốn nhưng không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị; sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có tác dụng không mong muốn ở hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05,…và p>0,05). Buồn ngủ là biểu hiện hay gặp nhất ở nhóm nghiên cứu, chiếm 54,2%. Các tác dụng khác chỉ thấy thoáng qua (run đầu chi, rối loạn tiêu hóa). Nghiên cứu của Frost J, Okun S, Vaughan T, Heywood J, Wicks P (2011) tổng hợp trên 1394 báo cáo về điều trị bằng amitriptylin thấy tác dụng không mong muốn hay gặp nhất là cảm giác buồn ngủ (46%), thứ hai là khô miệng (29%) và thứ ba là tăng cân [2]. Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy amitriptylin có một số tác dụng không mong muốn như các giả trên thế giới đã tổng kết khi sử dụng điều trị với các bệnh khác. Mặt khác cả hai nhóm bệnh nhân đều sử dụng kháng histamin nên chúng tôi cũng không xác định được tác dụng không mong muốn đó đích thực là của của thuốc nào.

V. KẾT LUẬN

Nghiên cứu trên 30 bệnh nhân ngứa nội sinh có sử dụng amitriptylin phối hợp với loratadin trong điều trị tại Khoa Da liễu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên có so sánh 28 bệnh nhân đối chứng chỉ sử dụng loratadin, chúng tôi có kết luận sau:

Tỷ lệ bệnh nhân có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa sau 6 giờ chiếm 70,0%, cao hơn nhóm đối chứng chỉ sử dụng loratadin (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05). Sau 9 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 60,0%, cao hơn so với nhóm đối chứng (28,6%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05).

Các tác dụng không mong muốn như buồn ngủ, chóng mặt, tăng cân, run đầu chi, khô miệng, rối loạn tiêu hóa gặp ở cả nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, không bệnh nhân nào phải ngừng điều trị.

VI. KIẾN NGHỊ

Cần tiếp tục nghiên cứu thêm về tác dụng giảm ngứa của amitriptylin nói riêng và một số thuốc chống trầm cảm nói chung với cỡ mẫu lớn hơn để làm cơ sở đề xuất chỉ định áp dụng rộng rãi hơn, nhằm góp phần cải thiện điều trị trong bệnh ngứa nội sinh và một số bệnh da có ngứa khác.

Nguyễn Quý Thái*, Hà Thị Thanh Nga*, Nguyễn Thị Hải Yến*, Trần Văn Tiến**

*Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

             *Bệnh viện Da liễu Trung ương                                         

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Demierre MF, Taverna J (2006), “Mirtazapin and gabapentin for reducing pruritus in cutaneous T-cell lymphoma“, J Am Acad Dermatol; 55, pp 543–544.

2. Frost J, Okun S, Vaughan T, Heywood J, Wicks P (2011), “patient-reported Outcomes as a Source of Evidence in Off-Label Prescribing: Analysis of Data From Patients Like Me“, J Med Internet Res,13(1), pp6.

3. Gil Yosipovitch (2010), “Chronic Pruritus: a Paraneoplastic Sign”, Dermatol Ther, (6):590-6.

4. Jorizzo J, Gath S, Smith EB (1981), “Prurigo – a clinical review”, J Am Acad Dermatol; 4, pp 723-9.

5. Lee MR, Shumack S (2005), “ Prurigo nodularis: a review”, Australas J Dermatol, 46 (4): 211-18.

6. Thomas Krieg, David R. Bickers, Yoshiki Miyachi. Thomas Krieg David R, (2010), Therapy of skin diseases: A Worldwide Perspective on Therapeutic Approaches and Their Molecular Basis, Springer, pp 242- 243.

 

Bệnh sẩn ngứa nội sinh thường do các rối loạn trong cơ thể như bị bệnh gan, thận, rối loạn chuyển hóa, đái tháo đường, tăng mỡ máu.


   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)