Đánh giá kiến thức – thái độ - hành vi chăm sóc mắt của học sinh mắc tật khúc xạ đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt Trung ương
(09:21 | 15/04/2014)
  - TKX là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực, đặc biệt là ở trẻ em, ảnh hưởng đến thị lực, thẩm mỹ, học tập, sinh hoạt, vui chơi và giải trí của trẻ nhất là ở trẻ nhỏ. TKX làm mắt nhìn mờ, có thể gây nên nhược thị, lác.

Phạm Thị Kim Đức*, Nguyễn Thị Hiền*, Hà Huy Tài*

*Bệnh viện Mắt Trung ương

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi (KAP) chăm sóc mắt (CSM) của học sinh mắc tật khúc xạ (TKX) đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt TW năm 2011. Đề xuất giải pháp, biện pháp tuyên truyền và giáo dục cho học sinh, nhân dân nhằm nâng cao sự nhận thức về TKX, cách khắc phục những điểm còn yếu.

Phương pháp nghiên cứu: điều tra, mô tả cắt ngang.

Kết quả: về kiến thức, thái độ, hành vi CSM của học sinh mắc TKX. Tỉ lệ học sinh có kiến thức đạt loại giỏi (0%), loại yếu (46,5%), trong đó học sinh ở lứa tuổi 15 - 18 tuổi chiếm tỉ lệ cao hơn. Học sinh ở thành thị và nông thôn đều thiếu kiến thức về CSM. Tỉ lệ học sinh ở lứa tuổi 11- < 15 và 15 - 18 có thái độ CSM tốt đạt 85%. Học sinh nữ có thái độ CSM tốt hơn học sinh nam (62,4%-37,6%). Tỉ lệ học sinh cấp II và cấp III có hành vi CSM tốt (28%), trung bình (49%), chưa tốt (23%).

Kết luận: kiến thức về CSM mắc TKX của học sinh ở nông thôn hay ở thành thị đều rất thấp. Học sinh nữ có thái độ CSM tốt hơn học sinh nam. Tỉ lệ học sinh ở 2 bậc học của từng nhóm mức độ có hành vi CSM (tốt, trung bình, chưa tốt) là như nhau. Dù có thái độ tốt nhưng thiếu kiến thức thì hành vi CSM của học sinh cũng không thể tốt được.

Từ khóa: kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc mắt, KAP.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

TKX là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực, đặc biệt là ở trẻ em, ảnh hưởng đến thị lực, thẩm mỹ, học tập, sinh hoạt, vui chơi và giải trí của trẻ nhất là ở trẻ nhỏ. TKX làm mắt nhìn mờ, có thể gây nên nhược thị, lác.

Ước tính trên thế giới có khoảng 2,5 tỉ người mắc TKX, phổ biến nhất là cận thị. Vùng Đông Á và Đông Nam Á là nơi có tỉ lệ mắc TKX cao nhất, chủ yếu là cận thị. Tại Trung Quốc, Jialiang Zhao nghiên cứu trên 6.134 trẻ từ 5 đến 15 tuổi thấy nguyên nhân của 89,5% mắt giảm thị lực là do TKX. Tại Việt Nam, trong hai năm (1998 và 1999) Trung tâm Mắt Hà Nội đã khám cho 3.038 HS ở 7 trường nội ngoại thành Hà Nội cho thấy tỉ lệ cận thị là 21,85%, tăng gần gấp bốn lần so với 5 năm trước. Theo thống kê của phòng khám BV Mắt TW: Năm 2010 có 89.902 lượt người tới khám khúc xạ chiếm khoảng 31,1% tổng số BN (288.890 BN) tới khám tại phòng khám, trong đó 70% là trẻ em. Nghiên cứu của Hà Huy Tài năm 2000 cho thấy tỉ lệ HS mắc tật khúc xạ ở HS Hà Nội, Ninh Bình và Nam Định (90,5% - 9,4% và 13,8%).

Các nghiên cứu về TKX trong những năm gần đây cho thấy tỉ lệ HS mắc TKX ngày càng gia tăng, dù trẻ đã được chỉnh kính và đeo kính thì số độ điốp hàng năm cũng tăng lên rất nhanh. BV Mắt TW thường xuyên tổ chức các đợt khám bệnh, phát hiện sớm những HS mắc TKX và tư vấn CSM tại các trường học, xã, phường (địa phương) qua đó cho thấy cách chăm sóc và tự bảo vệ mắt của trẻ và gia đình còn có nhiều thiếu hụt như sự nhận thức, kiến thức về chăm sóc, bảo vệ mắt của nhân dân nói chung của trẻ và gia đình nói riêng chưa cao; gia đình còn thiếu quan tâm đến cách chăm sóc, bảo vệ mắt cho trẻ; trường học chưa cập nhật các nội dung CSM tiên tiến; điều kiện sống và môi trường học tập chưa đảm bảo; y tế học đường chưa quan tâm đầy đủ tới sự bảo vệ và CSM cho HS...

Nhiều năm nay, TKX đã trở thành vấn đề thời sự, thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên KAP chăm sóc của HS còn có nhiều bất cập.

Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhưng ở trong nước cũng như tại BV Mắt TW chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi CSM của học sinh mắc tật khúc xạ đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt TW, năm 2011” với mục tiêu:

Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi CSM của HS mắc tật khúc xạ đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt Trung ương, năm 2011.

Đề xuất giải pháp, biện pháp tuyên truyền và giáo dục cho HS, nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về tật khúc xạ, cách khắc phục những điểm còn yếu.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

Học sinh Việt Nam từ 11 tuổi đến 18 tuổi, không phân biệt nam, nữ (lứa tuổi phù hợp): chia theo 2 cấp học (bậc trung học cơ sở và phổ thông trung học) đến khám tại các phòng khám của BV Mắt TW trong thời gian nghiên cứu và được chẩn đoán xác định mắt có tật khúc xạ. Thời gian từ 01/6/2011 đến hết 31/8/2011 (3 tháng).

Đối tượng có khả năng nhận thức và năng lực trí tuệ, tự nguyện tham gia nghiên cứu.

2. Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: điều tra mô tả cắt ngang.

Cỡ mẫu: n = 200 học sinh.                    

Phương tiện nghiên cứu: bộ câu hỏi điều tra đã được xây dựng trước để đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi CSM của của HS mắc tật khúc xạ.

Cách thức nghiên cứu: thu thập, phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê y học SPSS 16.0.

Tiêu chí đánh giá

Chia theo 4 mức độ để đánh giá về kiến thức CSM: giỏi, khá, trung bình và yếu.

Chia theo 3 mức độ để đánh giá thái độ và hành vi CSM: tốt, trung bình và chưa tốt.

III. KẾT QUẢ

1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

1.1. Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1. Phân bố về tuổi – giới của đối tượng nghiên cứu

Giới

Tuổi

Nam

N

n

%

n

%

n

%

11 tuổi  - < 15 tuổi

42

21

64

32

106

53

15 tuổi – 18 tuổi

38

19

56

28

94

47

Tổng số

80

40

120

60

200

100

 

Tỉ lệ HS nữ mắc TKX lớn hơn nam (60% so với 40%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Ở cả hai lứa tuổi thì tỉ lệ HS nữ mắc TKX đều cao hơn nam.

1.2. Nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2. Phân bố về nơi sống của đối tượng nghiên cứu

Nơi sinh sống

n

%

Thành thị

106

53

Nông thôn

94

47

Tổng số

200

100

 

Tỉ lệ HS mắc TKX ở thành thị cao hơn  nông thôn (53% so với 47%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

2. Đánh giá về kiến thức, thái độ và hành vi CSM của đối tượng nghiên cứu

2.1. Đánh giá về kiến thức CSM

* Theo tuổi

Bảng 3. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu phân bố theo lứa tuổi/cấp học

Tuổi

 

Mức độ

11  -  <15 tuổi

(Cấp II)

15 – 18 tuổi

(Cấp III)

n

%

n

%

n

%

Giỏi

0

0

0

0

0

0

Khá

10

28

26

72

36

18

Trung bình

40

56,3

31

43,7

71

35,5

Yếu

56

60,2

37

39,8

93

46,5

Tổng số

106

53

94

47

200

100

 

Không có HS nào tham gia nghiên cứu có kiến thức CSM đạt loại giỏi; đa số HS có kiến thức đạt loại yếu (46,5%); loại khá (18%) trong đó lứa tuổi từ 15-18 tuổi chiếm 72%, lứa tuổi 11 - < 15 tuổi chỉ có 28%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.

* Theo giới

Bảng 4. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu phân bố theo giới

Giới

Mức độ

Nam

Nữ

n

%

n

%

n

%

Giỏi

0

0

0

0

0

0

Khá

16

44

20

56

36

18

Trung bình

29

40,8

42

59,2

71

35,5

Yếu

34

36,6

59

63,4

93

46,5

Tổng số

79

39,5

121

60,5

200

100

 

Không HS nào có kiến thức CSM đạt loại giỏi ở cả nam và nữ; đạt loại khá có 36 HS (trong đó nam chiếm 44%, nữ chiếm 56%); loại yếu có 93 HS (trong đó nữ: 63,4%, nam: 36,6%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

* Theo nơi sinh sống

Bảng 5. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu phân bố theo nơi sống

Nơi sống

Mức độ

Thành thị

Nông thôn

n

%

n

%

n

%

Giỏi

0

0

0

0

0

0

Khá

20

56

16

44

36

18

Trung bình

44

62

27

38

71

35,5

Yếu

42

45

51

55

93

46,5

Tổng số

106

53

94

47

200

100

 

Ở thành thị và nông thôn đều không có HS có kiến thức CSM đạt loại giỏi; HS có kiến thức CSM đạt loại yếu ở nông thôn cao hơn ở thành thị (55% so với 45%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

2.2. Đánh giá về thái độ CSM

* Phân bổ theo lứa tuổi/cấp học

HS có thái độ CSM tốt đạt 85% trong đó lứa tuổi từ 11–<15 tuổi chiếm 51,2%, lứa tuổi từ 15-18 tuổi chiếm 48,8%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 

* Theo giới

Thái độ CSM đạt loại tốt ở HS nữ cao hơn nam (62,4% so với 37,6%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. 

* Theo nơi sinh sống

HS ở thành thị có thái độ CSM đạt loại tốt cao hơn HS ở nông thôn (56,5% so với 43,5%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

2.3. Đánh giá về hành vi CSM của đối tượng nghiên cứu

* Theo lứa tuổi/cấp học

 Tỉ lệ HS có hành vi CSM ở mức độ tốt chỉ chiếm 28%, mức độ chưa tốt chiếm 23%. Trong đó tỉ lệ HS ở bậc học cấp II và cấp III ở từng nhóm mức độ có hành vi CSM (tốt, trung bình, chưa tốt) là như nhau với mức ý nghĩa p > 0,05.

* Theo giới

Hành vi CSM ở mức độ tốt của HS nam cao nữ (55,4% sơ với 44,6%), hành vi CSM ở mức độ trung bình và chưa tốt của HS nam thấp hơn nữ (30,6% so với 69,4%; 39,1% so với 60,9%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

* Theo nơi sống

 Tỉ lệ HS ở thành thị có hành vi CSM đạt loại tốt chiếm 62,5% cao hơn HS ở nông thôn với 37,5%. HS ở thành thị có hành vi CSM đạt loại chưa tốt chiếm 45,7% thấp hơn HS ở nông thôn chiếm 54,3%.

IV. BÀN LUẬN

1. Về kiến thức, thái độ, hành vi CSM của học sinh mắc tật khúc xạ

1.1. Về kiến thức

* Theo tuổi

Không HS nào có kiến thức CSM đạt loại giỏi, đa số có kiến thức CSM đạt loại yếu gồm 93 HS chiếm 46,5% trong đó nhóm HS lứa tuổi 15-18 tuổi cao hơn nhóm 11 - <15 tuổi (60,2% so với 39,8%), kết quả này cao hơn nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên năm 2007 (13,3%). Để lý giải vấn đề này, có lẽ do nghiên cứu này chỉ đề cập đến kiến thức CSM của HS mắc tật khúc xạ, còn nghiên cứu của tác giả đề cập đến kiến thức của HS bao gồm cả mắc TKX và không mắc TKX. Những kiến thức sai lầm mà HS thường mắc phải như: 35,5% HS trong số tham gia nghiên cứu không biết TKX là gì, 23% trả lời cận thị không gây nguy hiểm và không dẫn đến mù lòa, 23% trả lời TKX có thể được điều trị bằng phẫu thuật là sai.... Nghiên cứu cho thấy còn có nhiều tồn tại lệch lạc, sai lầm trong quan niệm, kiến thức CSM của HS.

Như vậy, phần lớn HS chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về TKX. Có thể do nội dung này trong sách giáo khoa phần lớn còn sơ sài, hiếm khi có thầy cô giáo sử dụng thêm những kiến thức từ nguồn tài liệu bên ngoài (tài liệu do giáo viên tự cập nhật) để hướng dẫn HS. Cũng có thể do kiến thức về CSM có tật khúc xạ của gia đình HS chưa đầy đủ, còn nhiều thiếu hụt hoặc khả năng hướng dẫn, cung cấp kiến thức về vấn đề này cho HS còn có nhiều hạn chế.  

Tỉ lệ HS có kiến thức CSM đạt loại trung bình chiếm 35,5% và đặc biệt là loại khá chỉ có 36 HS chiếm 18% (trong đó 72% ở lứa tuổi 15-18 tuổi, 28% ở lứa tuổi 11 - <15 tuổi), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Như vậy nhóm HS nằm trong lứa tuổi 15-18 tuổi có kiến thức cao hơn nhóm HS ở 11 - < 15 tuổi. Để lý giải điều này, có thể do trẻ càng lớn thì sự hiểu biết và kiến thức càng rộng nên trả lời được nhiều câu hỏi về kiến thức CSM mắc tật khúc xạ hơn. Điều này cũng phù hợp với sự phát triển về tinh thần cũng như thể chất của trẻ (hoàn toàn sinh lý).

* Theo giới

Không có HS có kiến thức CSM đạt loại giỏi ở cả nam và nữ. Đạt loại khá có 36 HS (44% nam, 56% nữ), loại trung bình có 71 HS (40,8% nam, 59,2% nữ), tuy nhiên không có sự khác biệt về giới ở 2 nhóm HS có kiến thức CSM ở mức độ khá và trung bình với p >0,05. Tỉ lệ HS nam và nữ có kiến thức sai lầm về CSM có tật khúc xạ là như nhau khi trả lời thị lực bình thường của HS là 5/10 - 7/10 (35% - 36%). Để lý giải điều này, có lẽ do áp lực học tập đối với HS quá lớn, hoặc có thể do thầy cô giáo và cha mẹ HS chưa có nhiều thời gian hướng dẫn, bổ sung kiến thức CSM cho trẻ do đó, HS nam và nữ có kiến thức sai lầm về CSM là như nhau.

* Theo nơi sinh sống

Kiến thức CSM đạt loại giỏi của HS thành thị và nông thôn đều không có; tỉ lệ HS có kiến thức đạt loại khá ở thành thị cao hơn nông thôn (56% so với 44%), tỉ lệ HS có kiến thức CSM đạt loại yếu ở nông thôn cao hơn thành thị (55% so với 45%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Để lý giải điều này có thể do thành thị ngày nay được mở rộng hơn, nhiều tỉnh đã được nâng lên thành thành phố, mức độ đô thị hóa ngày càng cao nên HS thành thị và nông thôn ít có sự khác biệt hay nói cách khác, không còn chênh lệch nhiều trong mặt như đời sống, xã hội bao gồm cả văn hóa, giáo dục.....do đó kiến thức về CSM có tật khúc xạ được HS thu nhận được là như nhau. Như vậy, kết quả trên cho thấy HS ở cả nông thôn và thành thị đều thiếu kiến thức về CSM.... Điều đó cũng chứng tỏ rằng, nhu cầu cần được tư vấn thêm kiến thức về CSM của HS nói chung, của HS mắc tật khúc xạ nói riêng là rất lớn mà ngành Mắt cần quan tâm và đáp ứng.

1.2. Về thái độ CSM của học sinh mắc tật khúc xạ

* Theo tuổi

Trong số HS tham gia nghiên cứu, tỉ lệ HS có thái độ CSM tốt đạt 85% (trong đó HS ở lứa tuổi 11- < 15 tuổi chiếm 51,2% và HS ở lứa tuổi 15-18 tuổi chiếm 48,8%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Kết quả này cao hơn hẳn nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên năm 2007 (0%). Để lý giải điều này, có lẽ do nghiên cứu của tác giả chia mức độ phân loại thái độ CSM của HS làm 4 loại (tốt, khá, trung bình và yếu) nên tiêu chí để đánh giá thái độ đạt loại tốt ở mức cao hơn (có thể từ 9-10 điểm). Còn nghiên cứu này, chia mức độ phân loại thái độ chăm sóc của HS làm 3 loại (tốt, trung bình và chưa tốt) nên tiêu chí đánh giá thái độ đạt loại tốt ở mức ≥ 7 điểm, do đó tỉ lệ HS có thái độ CSM đạt loại tốt cao hơn. Điều này cho thấy, mặc dù thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức về cách CSM mắc TKX, nhưng sau khi được bác sĩ chẩn đoán mắc TKX thì phần lớn các HS ở cả 2 nhóm tuổi trên đều ý thức được tầm quan trọng của việc đeo kính và CSM, cũng như việc cần thiết phải đi khám mắt ở những cơ sở đáng tin cậy. Việc có được thái độ tốt này chính là nền tảng cho bước tiếp theo để HS có được hành vi CSM tốt.

* Theo giới

Trong số 170 HS có thái độ CSM tốt thì tỷ lệ HS nữ cao hơn nam (62,4% so với 37,6%). Điều này có thể lý giải được, vì TKX không chỉ ảnh hưởng đến khả năng nhìn rõ của HS mà phần lớn HS phải đeo kính bị ảnh hưởng đến thẩm mỹ, nhất là nữ giới. Do vậy, nữ sinh sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc CSM khi mắc TKX.

Tỉ lệ HS ở cả nam và nữ có thái độ lệch lạc, sai lầm như nhau khi cho rằng, không nên đeo kính đúng số bác sĩ kê đơn, chỉ nên đo số thấp hơn để trách cho mắt bị tăng số (nặng lên) là 11,5% và 2,5% là không có ý kiến gì, hay 7,5% HS cho rằng, nếu chỉ 1 mắt bị cận thị còn mắt kia bình thường, nhìn vẫn rõ thì không cần đeo kính và 18% không có ý kiến gì. Số liệu trên đã phần nào cho thấy ở cả HS nam và nữ mắc TKX đều có những quan điểm lệch lạc, dẫn đến thái độ CSM vẫn còn có những thiếu hụt cần phải thay đổi.

* Theo nơi sinh sống

Khi so sánh thái độ CSM của HS ở 2 nhóm sinh sống là nông thôn và thành thị chúng tôi nhận thấy, trong số 85% HS có thái độ CSM tốt thì tỉ lệ HS ở thành thị cao hơn nông thôn (56,5% so với 43,5%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên năm 2007 (0%). Để lý giải điều này, có thể do tác giả nghiên cứu thái độ CSM của HS theo 4 vùng :trung tâm, cận trung tâm, ven, ngoại thành (một miền), còn nghiên cứu này chỉ đề cập đến nơi sinh sống của HS là thành thị và nông thôn (bao gồm tất cả các thành phố,….), vì vậy nên kết quả này cao hơn.

1.3. Về hành vi CSM của học sinh mắc TKX

* Theo tuổi

Tỉ lệ HS mắc TKX có hành vi CSM tốt chỉ chiếm 28%, kết quả này cao hơn nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên cùng cộng sự năm 2007 (0%). Có lẽ do nghiên cứu của tác giả chia mức độ phân loại hành vi CSM của HS làm 4 loại (tốt, khá, trung bình và yếu) nên tiêu chí để đánh giá hành vi đạt loại tốt ở mức cao hơn (có thể từ 9-10 điểm). Còn nghiên cứu này, chia mức độ phân loại hành vi CSM làm 3 loại (tốt, trung bình và chưa tốt) nên tiêu chí đánh giá hành vi đạt loại tốt ở mức ≥ 7 điểm, do đó tỉ lệ HS có hành vi CSM đạt loại tốt cao hơn. Bên cạnh đó có thể do HS thiếu kiến thức về CSM, nên dù có thái độ tốt, tích cực nhưng vẫn không có được hành vi tốt bởi hành vi chưa tốt đó được lặp đi lặp lại nhiều lần và đã trở thành thói quen.

Trong số 200 HS mắc TKX đến khám tại Phòng khám BV Mắt TW có đến 51% HS được hỏi trả lời thường xuyên và không thường xuyên uống thuốc chữa cận thị và không cần đeo kính, 61% HS trả lời không thường xuyên và chưa bao giờ ngồi học đúng tư thế, 55,5% HS không thường xuyên và chưa bao giờ đeo kính thường xuyên khi bị mắc TKX. Thực trạng này đòi hỏi cần phải có một hệ thống CSM toàn diện từ trên xuống dưới (từ cấp trung ương xuống đến cấp địa phương – xã phường) để có thể cung cấp, bổ sung đầy đủ kiến thức CSM nói chung và CSM có TKX nói riêng nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi CSM cho HS trong lứa tuổi học đường. Từ đó mới tạo được cơ sở để trẻ có hành vi CSM tốt được.

* Theo giới

Tỉ lệ hành vi CSM tốt ở nhóm HS nam mắc TKX cao hơn nữ (55,4% so với 44,6%), cũng như hành vi CSM ở mức độ trung bình ở nhóm HS nam thấp hơn nữ (30,6% so với 69,4%) và hành vi CSM chưa tốt ở nhóm HS nam thấp hơn nữ (39,1% so với 60,9%), sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả trên cho thấy HS nam có hành vi CSM tốt hơn HS nữ. Điều này cho thấy, mặc dù thái độ CSM của nữ sinh thì tích cực hơn nam sinh nhưng với việc thiếu hiểu biết về kiến thức CSM thì hành vi CSM vẫn có thể không tốt được.

* Theo nơi sinh sống

Tỉ lệ HS mắc TKX ở thành thị có hành vi CSM đạt loại tốt cao hơn nông thôn (62,5% so với 37,5%). Hay HS ở thành thị có hành vi CSM đạt loại chưa tốt ít hơn nông thôn (45,7% so với 54,3%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Để lý giải vấn đề này, có lẽ do HS ở thành thị có nhiều điều kiện về cơ sở vật chất cũng như kinh tế, dễ dàng tiếp cận với các cơ sở chuyên khoa mắt đặc biệt là tuyến trung ương, nên kiến thức về hành vi CSM cũng tốt hơn HS ở nông thôn. Bên cạnh đó, có thể do khi sinh hoạt trong môi trường có nhiều người mắc TKX sẽ giúp HS thành phố được học hỏi lẫn nhau về kiến thức CSM có TKX nên HS ở thành thị đã có hành vi CSM tốt hơn HS ở nông thôn.

2. Về hệ thống CSM ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, hệ thống CSM cho HS được chia thành 5 cấp từ trung ương xuống đến địa phương. Tuy nhiên, do còn có hạn chế nên vấn đề CSM cho cộng đồng nói chung và cho HS mắc TKX nói riêng vẫn còn bất cập cần phải khắc phục.

Đa số HS còn thiếu kiến thức, kĩ năng và hành vi chăm sóc, bảo vệ mắt. Gia đình (cha, mẹ của HS) thiếu kiến thức về công tác chăm sóc và bảo vệ mắt cho trẻ, ít có thời gian do đó không đưa trẻ đi khám mắt định kỳ thường xuyên, điều kiện sống chưa đảm bảo, còn chật chội, thiếu ánh sáng.....Môi trường học tập chưa đảm bảo, bàn ghế chưa phù hợp với lứa tuổi, một số thầy cô giáo viết chữ quá nhỏ nên gây khó khăn cho các em khi nhìn lên bảng trong khi học,....

Mặt khác, trường học chưa có phương tiện phục vụ cho việc phát hiện sớm các bệnh về mắt của HS, chưa phát hiện kịp thời HS có thị lực kém hay có các biểu hiện bất thường tại mắt. Một số thầy cô giáo chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc, bảo vệ mắt cho trẻ trong trường học, ít sử dụng thêm các kiến thức từ nguồn tài liệu bên ngoài để dạy HS về cách chăm sóc bảo vệ mắt. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên cho thấy có 75,2% giáo viên không biết TKX có thể là nguyên nhân gây lác (lé). Rất ít trường tổ chức được các buổi truyền thông giáo dục sức khỏe, tuyên truyền, sử dụng tranh ảnh, tờ rơi, băng hình để hướng dẫn, bổ sung thêm cho HS kiến thức về CSM còn thiếu hụt để trẻ tự CSM cho chính bản thân. Cán bộ phụ trách y tế học đường thường là giáo viên kiêm nhiệm nên còn nhiều hạn chế.

Hệ thống y tế cấp xã, phường, thị trấn, quận, huyện chưa có bộ phận chuyên CSM cho trẻ đặc biệt là trẻ mắc TKX. Hệ thống y tế cấp tỉnh, thành phố có trung tâm mắt, bệnh viện mắt tỉnh, thành phố, bệnh mắt tư nhân, bệnh viện mắt bán công nhưng đa số chưa có bộ phận chuyên biệt CSM cho trẻ mắc TKX trừ một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Vì vậy, Bệnh viện Mắt TW, nơi CSM tốt nhất đặc biệt là trẻ em mắc TKX nhưng lưu lượng bệnh nhân đông, do đó thời gian tư vấn, hướng dẫn trẻ cách tự chăm sóc và bảo vệ mắt còn có nhiều hạn chế.

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trên, chúng tôi xin đưa ra một số kết luận như sau:

Về kiến thức, thái độ, hành vi CSM của HS mắc TKX

Tỉ lệ HS có kiến thức đạt loại giỏi (0%), loại yếu (46,5%), trong đó HS ở lứa tuổi 15 - 18 tuổi cao hơn lứa tuổi 11 - < 15 tuổi (60,2% so với 39,8%).

HS ở thành thị và nông thôn đều thiếu kiến thức về CSM.

Tỉ lệ HS ở lứa tuổi 11- < 15 và 15-18 có thái độ CSM tốt đạt 85% (51,2% - 48,8%), loại trung bình và chưa tốt (15%).

HS nữ có thái độ CSM tốt hơn HS nam (62,4% - 37,6%).

Tỉ lệ HS cấp II và cấp III có hành vi CSM tốt (28%), trung bình (49%), chưa tốt (23%), trong đó tỉ lệ HS ở 2 bậc học của từng nhóm mức độ có hành vi CSM (tốt, trung bình, chưa tốt) là như nhau.

Dù có thái độ tốt nhưng thiếu kiến thức thì hành vi CSM của HS cũng không thể tốt được.

KIẾN NGHỊ

Cần kiện toàn hệ thống CSM từ trung ương xuống đến địa phương để người dân nói chung, HS mắc TKX nói riêng có cơ hội được thăm khám và CSM như nhau.

Cần tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên báo đài, vô tuyến, tổ chức nói chuyện chuyên đề dưới nhiều hình thức như: thuyết trình, tư vấn, đố vui, thi tìm hiểu kiến thức về CSM mắc TKX,…. cho HS.

Bác sĩ, điều dưỡng chuyên khoa mắt cần chú trọng công tác tư vấn cho người dân nói chung, HS nói riêng để họ có thêm kiến thức, giúp họ tự CSM tốt hơn.

Tăng cường, cho tuyến dưới bác sĩ, điều dưỡng chuyên khoa mắt để khám sàng lọc cho người dân trong đó có HS mắc TKX giúp giảm tải cho tuyến trên.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      KIM DUNG (2008), Điều tra nhận thức, thái độ, hành vi CSM của học sinh, giáo viên, phụ huynh học sinh và thực trạng TKX của học sinh các trường phổ thông.

2.      NGUYỄN XUÂN HIỆP (2000), TKX: một nguyên nhân chính gây giảm thị lực tại Việt Nam và các nước trong khu vực. Nội san nhãn khoa năm 2000; 3.

3.      HOÀNG THỊ LŨY và CS (1999), Khảo sát tình hình thị lực và TKX của học sinh, sinh viên trường phổ thông trung học và đại học chuyên ngành. Nội san nhãn khoa.

4.      HÀ HUY TÀI (2000), Tình hình TKX ở học sinh phổ thông. Nội san nhãn khoa năm 2000; 3.

5.      ĐƯỜNG THỊ ANH THƠ (2008), Khảo sát một số chỉ số sinh học ở mắt trẻ em có tật khúc xạ, Luận án Thạc sĩ Y học – Trường Đại học Y Hà Nội.

6.      VŨ THỊ BÍCH THỦY (2003), Đánh giá các phương pháp xác định khúc xạ và điều chỉnh kính ở tuổi học sinh, Luận án Tiến sĩ Y học – Trường Đại học Y Hà Nội.

7.      HÀ HUY TIẾN, NGUYỄN THỊ NHUNG VÀ CỘNG SỰ (1999), Tình hình cận thị trong học sinh nội ngoại thành Hà Nội, Báo cáo khoa học trong Hội nghị ngành.

8.      LÊ THỊ THANH XUYÊN VÀ CỘNG SỰ (2007), Khảo sát tỉ lệ tật khúc xạ và kiến thức, thái độ, hành vi của học sinh, cha mẹ học sinh và giáo viên về tật khúc xạ tại thành phố Hồ Chí Minh.

(Tạp chí Nhãn khoa số 30)

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác