Độ nhạy và độ đặc hiệu của lupus band test trong chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ hệ thống
(09:08 | 21/05/2015)
  - Lupus band test là một xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán bệnh SLE có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nên chỉ định xét nghiệm LBT cho các bệnh nhân có thương tổn da nghi ngờ bệnh lupus ban đỏ để chẩn đoán phân biệt với các bệnh cảnh khác có biểu hiện tương tự.

Giá trị của lupus band test trong việc đánh giá mức độ nặng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ - những điều cần biết

Dinh dưỡng cho người bệnh lupus

Phụ nữ mắc bệnh lupus nên làm gì khi mang thai?

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Giá trị của lupus band test (LBT) trong việc chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) vẫn còn được bàn cãi. Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT trên bệnh nhân SLE.

Đối tượng và phương pháp: Điều tra mô tả cắt ngang LBT tại thương tổn và da lành của 34 bệnh nhân SLE chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn ARA 1997 nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ 15/09/2009 đến 15/09/2010.

Kết quả: Độ nhạy của xét nghiệm LBT tại thương tổn là 91,2%; độ đặc hiệu là 100%; giá trị dự đoán dương tính là 100%; giá trị dự đoán âm tính là 80%. Tương ứng với vùng da lành, độ nhạy là 76,5%; độ đặc hiệu là 100%; giá trị dự đoán dương tính là 100% và giá trị dự đoán âm tính là 60%. Nếu xét riêng từng thành phần miễn dịch thì độ nhạy của IgM là cao nhất: 52,9%; độ đặc hiệu của các thành phần miễn dịch đều đạt 100%.

Kết luận: LBT là một xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán bệnh SLE có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Nên chỉ định xét nghiệm LBT cho các bệnh nhân có thương tổn da nghi ngờ bệnh lupus ban đỏ để chẩn đoán phân biệt với các bệnh cảnh khác có biểu hiện tương tự.

Từ khóa: lupus band test, lupus ban đỏ hệ thống, miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, độ nhạy, độ đặc hiệu.

I.   Đặt vấn đề

Xét nghiệm LBT lần đầu tiên được tác giả Burnham và cộng sự đưa ra vào năm 1963. Đây là xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) phát hiện sự lắng đọng một chuỗi globulin miễn dịch tại vùng nối giữa thượng bì và trung bì ở da của bệnh nhân lupus. Thực tế lâm sàng cho thấy trên bệnh nhân SLE, thương tổn da thường gặp và xuất hiện sớm hơn các triệu chứng khác nhưng lại dễ nhầm lẫn với các bệnh da khác (viêm da dầu, viêm da tiếp xúc ánh sáng, vảy nến…). Vì vậy, các bệnh nhân nghi ngờ thường được chẩn đoán dựa vào mô bệnh học. Xét nghiệm LBT sẽ giúp các nhà giải phẫu bệnh có thêm bằng chứng của bệnh SLE. Các nghiên cứu trước đây cho thấy độ đặc hiệu của LBT cũng rất cao trong chẩn đoán phân biệt lupus ban đỏ với các rối loạn da khác có triệu chứng lâm sàng tương tự; ít trường hợp dương tính giả. MDHQTT ở vùng nối giữa thượng bì và trung bì hầu như luôn luôn âm tính trong các trường hợp dưới đây: ban đỏ ánh sáng đa dạng (polymorphic light eruption), thâm nhiễm lympho lành tính của Jessner, lichen phẳng, viêm da dầu, viêm da tiếp xúc, ban đỏ do thuốc, vảy nến, sarcoid, xơ cứng bì khu trú (morphea), bạch biến, viêm mao mạch tự phát và ban xuất huyết. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng MDHQTT trên thương tổn da, nhìn chung, nhạy cảm và đặc hiệu hơn so với các phương pháp mô bệnh học thông thường vẫn tiến hành, giúp chẩn đoán phân biệt lupus với hầu hết các bệnh có biểu hiện lâm sàng tương tự [1]. Xét nghiệm LBT đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành rộng rãi. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đây vẫn là một kỹ thuật xét nghiệm khó và đắt tiền nên số lượng nghiên cứu còn hạn chế. Vì vậy, chúng tôi làm nghiên cứu này với mục tiêu: Khảo sát độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT trên bệnh nhân SLE.

II.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nhóm bệnh: 34 bệnh nhân chẩn đoán xác định là SLE theo tiêu chuẩn ARA 1997 trong đó bắt buộc phải có tiêu chuẩn ANA hoặc anti-dsDNA, điều trị nội trú tại Bệnh viện da liễu Trung ương từ 15/09/2009 đến 15/09/2010. Nhóm chứng: 12 bệnh nhân tham gia tiểu phẫu vì các bệnh như nốt ruồi, bớt bẩm sinh… và loại trừ các bệnh tổ chức liên kết, bệnh da tự miễn, bệnh da nhạy cảm ánh sáng dựa vào khám và hỏi bệnh.

- Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Nhóm bệnh được cắt sinh thiết da tại tổn thương và da lành để nhuộm MDHQTT (hóa chất của hãng Thermo Electron Corporation), đọc kết quả (mù đơn) theo bệnh án nghiên cứu mẫu. Nhóm chứng được cắt 1 bệnh phẩm tại vùng da không có thương tổn.

III.    Kết quả

1.       Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

1.1. Phân bố theo giới

Trong số các bệnh nhân SLE trong nghiên cứu, nữ chiếm 94,1%, tỷ lệ nam/nữ là 1 : 16.

nhóm SLE

1A

Nhóm chứng

1B

Biểu đồ 1: Phân bố giới tính của nhóm SLE (1A) và nhóm chứng (1B)

1.2.    Phân bố theo tuổi

nhóm bệnh nhân SLE

Biểu đồ 2: Phân bố nhóm tuổi của nhóm bệnh nhân SLE

Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân SLE trong nghiên cứu của chúng tôi là 29,5 ± 11,9 tuổi. Tuổi thường gặp nhất của các bệnh nhân là nhóm tuổi từ 21 đến 30 (chiếm 44,1%). Tuổi trung bình của nhóm chứng: 29,7 ± 15,3 tuổi.

2.     Kết quả LBT trong nghiên cứu

2.1.    Kết quả LBT của nhóm chứng

100% bệnh nhân được cắt sinh thiết tại vùng da lành xa thương tổn. 100% bệnh nhân không lắng đọng thành phần miễn dịch nào.

2.2.    Kết quả LBT của nhóm bệnh nhân SLE

lupus band test

3A

lupus band test

3B

Biểu đồ 3: Phân bố kết quả LBT tại thương tổn (3A) và tại da lành (3B)

Tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn là 91,2%, tương ứng với 31 bệnh nhân. Tỷ lệ LBT dương tính tại da lành là 76,5%, tương ứng với 26 bệnh nhân.

3.    So sánh tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn và tại da lành

Bảng 1. So sánh tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn và tại da lành

LBT

Dương tính

Âm tính

Tổng

Thương tổn

31 (91,2%)

3 (8,8%)

34 (100%)

Da lành

26 (76,5%)

8 (23,5%)

34 (100%)

Tổng

57

11

68

          LBT lắng đọng tại thương tổn nhiều hơn tại da lành với p = 0,02 (t test).

4.    Độ nhạy, độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT

4.1. Tại thương tổn

Bảng 2. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT tại thương tổn

LBT tại thương tổn

Thực tế có bệnh

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Giá trị chẩn đoán dương tính

Giá trị chẩn đoán âm tính

+

-

Tổng hợp

+

31

0

91,2%

100%

100%

80%

_

3

12

IgG

+

24

0

70,6%

100%

100%

54,5%

_

10

12

IgM

+

26

0

76,5%

100%

100%

60%

_

8

12

IgA

+

20

0

58,8%

100%

100%

46,2%

_

14

12

C3

+

17

0

50%

100%

100%

41,4%

_

17

12

          Độ nhạy của xét nghiệm LBT tại thương tổn là 91,2%; độ đặc hiệu là 100%. Giá trị dự đoán dương tính là 100%, giá trị dự đoán âm tính là 80%.

4.2.       Tại da lành

Bảng 3. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT tại da lành

LBT tại da lành

Thực tế có bệnh

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Giá trị chẩn đoán dương tính

Giá trị chẩn đoán âm tính

+

-

Tổng hợp

+

26

0

76,5%

100%

100%

60%

_

8

12

IgG

+

17

0

50%

100%

100%

41,4%

_

17

12

IgM

+

18

0

52,9%

100%

100%

42,9%

_

16

12

IgA

+

13

0

38,2%

100%

100%

36,4%

_

21

12

C3

+

8

0

23,5%

100%

100%

31,6%

_

26

12

Độ nhạy của xét nghiệm LBT tại da lành là 76,5%; độ đặc hiệu là 100%. Giá trị dự đoán dương tính là 100% và giá trị dự đoán âm tính là 60%. Nếu xét riêng từng thành phần miễn dịch thì độ nhạy của IgM là cao nhất: 52,9%; độ đặc hiệu của các thành phần miễn dịch đều đạt 100%.

IV.  Bàn luận

Tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn trong nghiên cứu của chúng tôi (91,2%) phù hợp với tác giả Kalaaji A.N. và Nicolas M.E.O. Tuy nhiên, đối với kết quả LBT tại da lành, tác giả Kalaaji A.N. và Nicolas M.E.O chia thành 2 nhóm là vùng da lành có tiếp xúc với ánh sáng mặt trời có LBT dương tính 50% và vùng da lành không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời có LBT dương tính 30% [2]. Như vậy, nếu cộng hai nhóm lại thì tỷ lệ của hai tác giả trên là 80%, tương đương với kết quả của chúng tôi (76,5%). Theo nghiên cứu của Gangaram và cộng sự, tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn chỉ là 64%, thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi. Trong khi đó, tỷ lệ LBT dương tính tại da lành của các tác giả này lên tới 63% ở vùng da lành tiếp xúc ánh sáng và 25% dương tính tại vùng da lành không tiếp xúc ánh sáng. Tỷ lệ này cao bằng tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn trong cùng nghiên cứu và cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi [3]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ LBT dương tính tại thương tổn và da lành khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,02 [3].

Độ nhạy của xét nghiệm LBT trong nghiên cứu của chúng tôi tại thương tổn là 91,2%. Kết quả của chúng tôi tương tự với kết quả trong nghiên cứu của George R và cộng sự cho kết luận độ nhạy của LBT tại vùng da có thương tổn là 93%. Độ đặc hiệu của xét nghiệm LBT trong nghiên cứu của chúng tôi là 100% cả ở vị trí da thương tổn và da lành. Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của George R. và cộng sự. Sự khác biệt này có thể giải thích dựa vào cách chọn đối tượng nhóm chứng không bệnh của chúng tôi là vùng da lành hoàn toàn của các bệnh nhân có các bệnh da khác không liên quan đến bệnh tự miễn hay bệnh da do ánh nắng (ví dụ: bớt sùi bẩm sinh, nốt ruồi…) [4].

Độ nhạy của LBT tại vùng da lành trong nghiên cứu của chúng tôi là 76,5%. Kết quả trong nghiên cứu của Cardinali và cộng sự cũng tương tự với độ nhạy của LBT tại vùng da lành kín là 78,9%. Tuy nhiên, độ đặc hiệu trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên cứu của tác giả Cardinali (100% so với 47,8%). [5]

Như vậy, để chẩn đoán bệnh SLE, vị trí cắt sinh thiết tại vùng da có thương tổn có giá trị tốt hơn nhiều so với vùng da không có thương tổn. Theo nghiên cứu của Haugbro và cộng sự trên 158 bệnh nhân ANA dương tính, độ nhạy của xét nghiệm anti-dsDNA là 79%, độ đặc hiệu là 73% [6]. So sánh độ nhạy của LBT với xét nghiệm anti-dsDNA chúng ta thấy rằng xét nghiệm LBT tại da lành đạt giá trị tương tự (p = 0,7) nhưng xét nghiệm LBT tại thương tổn thì độ nhạy cao hơn anti-dsDNA (có ý nghĩa thống kê với p = 0,04).

V.  Kết luận

Độ nhạy của xét nghiệm LBT tại thương tổn là 91,2%; độ đặc hiệu là 100%; giá trị dự đoán dương tính là 100%; giá trị dự đoán âm tính là 80%. Tương ứng với vùng da lành, độ nhạy là 76,5%; độ đặc hiệu là 100%; giá trị dự đoán dương tính là 100% và giá trị dự đoán âm tính là 60%. Nếu xét riêng từng thành phần miễn dịch thì độ nhạy của IgM là cao nhất: 52,9%; độ đặc hiệu của các thành phần miễn dịch đều đạt 100%.

Vũ Nguyệt Minh, Trần Hậu Khang

Bệnh viện Da liễu Trung ương
Bài viết được trích trong Tạp chí Da liễu số 16

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Monroe E.W (1977), “Lupus band test”, Arch Dermatol, (113), 830 – 834.

2.    Kalaaji A.N, Nicolas M.E.O (2006), “Mayo clinic atlas of immunofluorescence in dermatology”, Mayo clinic scientific press.

3.    Gangaram H.B., Kong N.C.T., Phang K.S. et al (2004), “Lupus band test in systemic lupus erythematosus”, Medical Journal of Malaysia, 59 (5), p 638 – 648.

4.    George R., Kurian S., Jacob M. et al (1995), “Diagnostic evaluation of the lupus band test in discoid and systemic lupus erythematosus”, Int Journal Dermatol, 34(3), p 170 – 173.

5.    Cardinali C., Caproni M., Fabbri P. (1999), “The utility of the lupus band test on sun-protected non – lesional skin for the diagnosis of systemic lupus erythematosus”, Clinic experience rheumatol, 17(4), p 427 – 432.

6.    Haugbro K. (2004), “Anti-dsDNA antibodies and disease classification in antinuclear antibody positive patients: the role of analytical diversity”, Ann Rheum Dis - Uptodate, 63(4), p 386-94.

 

 

 Lupus band test, xét nghiệm, độ nhạy, độ đặc hiệu, tổn thương da

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)