Kinh nghiệm điều trị bệnh uốn ván
(08:28 | 22/02/2014)
  - Bệnh uốn ván đã được mô tả từ thời Hippocrates. Cho đến cuối thế kỷ XIX, Shibasaburo Kitasato, một học trò của Koch, đã phân lập được Clostridium tetani, làm thỏa mãn được định đề Koch chứng minh bệnh uốn ván do vi khuẩn này gây ra. Cho đến cuối thế kỷ XX, bệnh uốn ván vẫn là gành nặng cho y tế toàn cầu với ước tính 1 triệu người mặc bệnh mỗi năm.

Ở Việt Nam, mặc dù bệnh uốn ván sơ sinh đã được khống chế nhưng bệnh uốn ván vẫn còn gặp ở người lớn. Tại Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới Quốc Gia hàng năm có khoảng 120-150 trường hợp nhập viện. So với thời gian trước đây, khi mà tỷ lệ tử vong của căn bệnh này tại Viện khoảng 20% thì trong 3 năm trở lại đây, tỷ lệ tử vòn chỉ còn dưới 5%. Theo thống kê của khoa Điều trị tích cực của Viện, tính từ tháng 7/2006 đến tháng 7/2007, trong số 104 trường hợp nhập viện với chẩn đoán uốn ván, chỉ có một trường hợp tử vong (0,96%). Sau đây là những kinh nghiệm điều trị bệnh nhân uốn ván tại Viện trong thời gian qua.

 

Trực khuẩn gây bệnh uốn ván. Ảnh minh họa

Nguyên tắc

-    Đảm bảo yên tĩnh và tránh các kích thích đối với người bệnh.

-    Dùng kháng sinh tiêu diệt trực khuẩn uốn ván.

-    Trung hòa độc tố uốn ván còn lưu hành trong máu bằng SAT.

-    Khống chế co cứng cơ, co giật và rối loạn thần kinh thực vật.

-    Duy trí chức năng sống bằng các điều trị hỗ trợ.

Kháng sinh tiêu diệt trực khuẩn uốn ván

-    Metronidazol 0,5g x 3 lần, truyền tĩnh mạch cách 8 giờ/1 lần. Dùng trong 7-10 ngày.

Trung hòa độc tố uốn ván còn lưu hành trong máu

-    Nếu đã được tiêm SAT tại bệnh viện tuyến trước thì cân nhắc việc tiếp tục dùng SAT.

-    SAT 1500 đơn vị  x 6-10 ống tiêm bắp. Thử test trước tiêm.

-    Nếu thử test SAT dương tính thì giải mẫn cảm theo phương pháp Besredka.

-    Ngay sau khi bệnh nhân nhập viện nên tiêm sớm giải độc tố uốn ván (AT). Cần tiêm đủ 3 liều giải độc tố uốn ván, mỗi liều cách nhau 1 tháng.

Khống chế co cứng cơ, co giật và rối loạn thần kinh thực vật.

-    Thuốc dùng ban đầu: diazepam

+ Cách 2 đến 4 giờ dùng thuốc một lần.

+ Dùng xen kẽ thuốc tiêm (tiêm tĩnh mạch) và thuốc uống (bơm qua ống thông dạ dày).

+ Tùy đáp ứng lâm sàng, điều chỉnh liều tối thiểu để bệnh nhân nằm yên, không còn co giật nhưng vẫn co cứng cơ mức độ nhẹ khi kích thích.

+ Không nên dùng quá 240mg diazepam/ngày.

-    Khi dùng diazepam liều tối đa mà không hiệu quả thì dùng thêm Thiopental.

+ Pha thiopental 1-2g vào chai NaCl 0,9% 250-500 ml. Truyền bonus qua catheter tĩnh mạch trung tâm khi bệnh nhân co giật. Ngừng truyền ngay khi bệnh nhân hết co giật.

+ Khi dùng thiopental nên mở khí quản cho bệnh nhân để hỗ trợ hô hấp khi cần.

+ Không nên dùng quá 4g thiopental/ngày.

-    Những trường hợp bệnh nhân co giật dọa ngạt có thể dùng ngay hỗn hợp  Cocktailytic:

+ Thành phần hỗn hợp: amiazin 0,025 g x 1 ống+ Dimedrol 0,01g x 1 ống.

+ Hỗn hợp các thuốc sau khi lấy vào bơm tiêm được tiêm bắp ngay 1/2 – 1 liều.

Hỗ trợ và chăm sóc hô hấp

-    Mở khí quản

+ Chỉ định sớm cho những trường hợp tiên lượng nặng.

+ Chỉ định cho những bệnh nhân co cứng chẹn ngực (không thở được) hoặc ứ đọng đờm rãi (không ho khạc được).

+ Những trường hợp ngay khi đến bệnh viện ngạt thở thì có thể dùng thuốc giãn cơ, đặt ống nội khí quản để hỗ trợ hô hấp trước rồi mở khí quản ngay.

-    Thở oxy

+ Chỉ định khi bệnh nhân còn tự thở được,thở khí trời SpO2<92%.

+ Thở oxy qua gọng mũi (chưa mở khí quản) hoặc qua ống chữ T (đã mở khí quản).

-    Thở máy:

+ Chỉ định khi bệnh nhân rối loạn nhịp thở,không tự thở được hoặc thở oxy nhưng SpO2<92%.

+ Bệnh nhân đang dùng Thiopental nên cho thở máy.

-    Chú ý vệ sinh răng miệng và hút sạch đờm rãi.

Hỗ trợ tuần hoàn

-    Đảm bảo khối lượng tuần hoàn bằng truyền dịch trên cơ sở cân bằng nước và điện giải.

-    Những trường hợp dùng diazepam tiêm liều cao và dùng thiopental phải đặt catheter tĩnh mạch trung tâm.

-    Duy trì huyết áp tâm thu luôn > 90mmHg bằng dịch truyền và các thuốc vận mạch.

Loét stress

-    Dự phòng điều trị và loét stress bằng thuốc giảm tiết acid dịch vị kết hợp với thuốc băng niêm mạc dạ dày.

-    Những trường hợp xuất huyết tiêu hóa cao kéo dài cần nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.

Các hỗ trợ và chăm sóc khác

-    Cho ăn qua ống thông dạ dày.

-    Bệnh nhân táo bón kéo dài dùng thuốc nhuận tràng Sorbitol. Có thể dùng thuốc tẩy magnesi sulfat. Thường sau 1-2 ngày điều trị bằng magnesi sulfat thì bệnh nhân đại tiện được nhưng nếu không có hiệu quả thì thụt tháo bằng nước ấm.

-    Bệnh nhân bí đái nên đặt thông tiểu sớm.

-    Những trường hợp bội nhiễm sử dụng thêm kháng sinh chống nhiễm khuẩn bệnh viện.

-    Chỉ xử trí vết thương đường vào khi bệnh nhân đã được kiểm soát tốt về hô hấp, tuần hoán và đã dùng kháng sinh tiêu diệt trực khuẩn uốn ván và SAT:

+ Rạch rộng vết thương lấy hết tổ chức hoại tử và dị vật.

+ Bơm rửa nước oxy già.

+ Không khâu kín ngay vết thương.

-    Vệ sinh cơ thể và các hốc tự nhiên. Chăm sóc thay đổi tư thế chống loét.

Bên cạnh công tác điều trị luôn chú ý tuyên truyền phòng bệnh cho người nhà bệnh nhân và cho cộng đồng. Với những đối tượng chưa bao giò tiêm vacxin uốn ván thì khuyến khích tiêm 3 mũi vacxin mỗi mũi cách nhau 1 tháng. Sau đó cứ 7-10 năm lại tiêm nhắc lại một mũi vacxin. Khi có vết thương dập nát, nhiều ngoc ngách và nhiễm bẩn có nguy cơ bị uốn ván, bên cạnh việc tiêm SAT cần chủ động cho tiêm đầy đủ vacxin uốn ván. Đối với những vết thương ít nguy cơ hơn, chỉ cần tiêm đầy đủ vacxin uốn ván là có hiệu lực bảo vệ cơ thể tránh bị uốn ván. Hy vọng rằng với những nỗ lực của toàn xã hội trong việc phòng ngừa bệnh uốn ván, căn bệnh đáng sợ này sẽ bị đẩy lùi tiến tới thanh toán trong một tương lai không xa


Ths.Bs.Nguyễn Quốc Thái

Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới Quốc Gia.

(TTVN số 15)

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Bệnh thương hàn (04/07/2014)  
Viêm não Herpes Simplex (04/07/2014)  
Lỵ trực khuẩn  (15/05/2014)  
Bệnh sốt mò (09/05/2014)  
Nhiễm khuẩn huyết (28/04/2014)  
Bệnh uốn ván (28/04/2014)  
Viêm màng não mủ (26/04/2014)