Một số điều cần biết về bệnh ung thư vú
(08:36 | 29/06/2012)
  - Ung thư vú là căn bệnh ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Thống kê ung thú tại Hà Nội cho thấy tỉ lệ mắc ung thư vú là 20,3/100.000 dân, con số này ở TP. Hồ Chí Minh là 17,2/100.000 dân. Trong đó vẫn còn tồn tại một thực trạng đáng tiếc: khoảng 50% bệnh nhân chẩn đoán bị bệnh ung thư vú là ở giai đoạn muộn. Phát hiện sớm được bệnh ung thư vú có thể đem lại nhiều lợi ích như tăng tỉ lệ chữa khỏi bệnh giảm chi phí điều trị, tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến vú.

1. Bệnh ung thư

Ung thư xuất phát từ các tế bào, đó là đơn vị cấu tạo nên các cơ quan bộ phận trong cơ thể. Trong quá trình phát triển bình thường của cơ thể các tế bào già cỗi sẽ chết đi và thay thế bằng các tế bào mới được sinh ra. Nếu các tế bào có sự bất thường hoặc các tế bào mới được sinh ra mà cơ thể không cần đến chúng hoặc những tế bào già cỗi không chết đi, khi đó sẽ có những tế bào thừa ra chúng sẽ hình thành nên khối u. Khối u có thể là lành tính hoặc ác tính.

Khối u lành tính thường ít khi gây nguy hiểm đến tính mạng khi đã được lấy bỏ thì ít khi tái phát và các u lành tính không lan sang các cơ quan lân cận và các cơ quan khác trong cơ thể.

Khối u ác tính (còn gọi là ung thư) thì ngược lại: chúng có thể đe dọa đến tính mạng, có thể tái phát sau khi đã được loại bỏ và đặc biệt chúng không chỉ phát triển tại chỗ mà còn xâm lấn ra xung quanh và các tế bào ung thư có thể theo dòng máu lan sang các cơ quan khác trong cơ thể và hình thành nên các khối u mới, quá trình này gọi là di căn. Ung thư vú (UTV) là sự hình thành một số thành phần cấu tạo nên tuyến vú: ống tuyến, thùy tuyến hoặc mô liên kết.

2. Sàng lọc

Sàng lọc là biện pháp dò tìm trước khi các triệu trứng xuất hiện, khi đó bệnh thường ở giai đoạn rất sớm và việc chữa trị sẽ rất giản đơn và mang lại hiệu quả cao. Sàng lọc UTV gồm có:

Chụp vú: nên áp dụng cho phụ nữ ở độ tuổi trên 40 từ 1-2 năm một lần và thường xuyên đối với những người có nguy cơ cao. Chụp vú có thể phát hiện những khối u nhỏ chưa sờ thấy hoặc phát hiện những điểm cacil hóa, chúng có thể là biểu hiện của UTV. Trên cơ sở phim chụp vú, bác sĩ có thể chỉ định những xét nghiệm khác nếu cần thiết.

Tự khám vú: tự khám vú đều đặn hàng tháng có vai trò hết sức quan trọng trong việc sàng lọc UTV nhưng điều quan trọng là người phụ nữ phải biết cách tự khám vú và nhận biết được các hiện tượng bất thường một cách chuẩn xác. Tự khám vú không thể thay thế được chụp vú và khám lâm sàng tuyến vú.

Khám lâm sàng tuyến vú

Người thầy thuốc sẽ khám ở hai tư thế đứng và nằm ở để phát hiện các bất thường của tuyến vú bao gồm: sự thay đổi hình dạng và kích thước của hai bên vú, sự thay đổi về da vú, núm vú, tiết dịch đầu vú, sự xuất hiện các khối u bất thường cũng như các hạch bạch huyết ở vùng xung quanh tuyến vú.

3. Chẩn đoán

Để chẩn đoán UTV, người thầy thuốc phải hỏi về tiền sử bệnh tật cá nhân và tiền sử gia đình, thăm khám kĩ càng và toàn diện và sau đó chỉ định một số xét nghiệm nếu cần thiết.

Qua thăm khám lâm sàng: người thầy thuốc sẽ nhận định kĩ càng về tính chất của khối như kích thước, mật độ, hình dạng, tính chất xâm lấn và độ di động của các khối u cũng như đánh giá về tình trạng hạch nách và toàn trạng của người bệnh.

Chụp vú chẩn đoán: sẽ giúp cho việc phân tích kĩ lưỡng hơn so với chụp vú sàng lọc thông qua những kĩ thuật sàng lọc thông qua những kĩ thuật đặc biệt hoặc nhiều góc chụp chi tiết hơn.

Sinh thiết: là việc lấy mô hoặc các tế bào của khối u để xem xét dưới kính hiển vi nhằm đi đến kết luận đó có phải là khối u ác tính hay không. Có thể xác định vị trí sinh thiết qua thăm khám lâm sàng hoặc dưới sự trợ giúp của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp vú, siêu âm… Có một số hình thức sinh thiết như sau:

Chọc hút bằng kim nhỏ: dùng kim nhỏ chọc vào khối u để lấy ra các tế bào hoặc dịch từ khối u.

Sinh thiết kim: dùng kim lớn để lấy ra khối lượng tổ chức u.

Sinh thiết mở: dùng biện pháp phẫu thuật để lấy ra một mảnh tổ chức u (sinh thiết lấy mảnh u) hoặc toàn bộ u (sinh thiết lấy trọn u).

Nếu tìm thấy tế bào ung thư có thể trả lời thêm đó là loại ung thư gì, thường gặp là những ung thư xuất phát từ những tế bào ứng tuyến, ít gặp hơn là những ung thư xuất phát từ những tế bào thùy tuyến.

Các xét nghiệm khác: các sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm để đánh giá tình trạng toàn thân và xét nhiệm thụ thể nội tiết của các u.

Qua phỏng vấn 200 bệnh nhân ung thư vú tại bệnh viện K cho thấy

66,5% không bao giờ tự khám vú trước đó.

17,5% đã điều trị bằng đắp lá hoặc các bài thuốc dân gian khác trước khi đến bệnh viện.

Thời gian trung bình từ khi khám ở y tế cơ sở cho đến khi khám chuyên khoa là 63 ngày.

64,3% không nhận được thông tin tuyên truyền về ung thư vú.

 

Xếp giai đoạn

Trước khi đưa kế hoạch điều trị, người thầy thuốc cần xác định xem mức độ lan tràn của bệnh đến đâu. Dựa vào thông tin tổng hợp của thăm khám lâm sàng khối u, hạch nách, tình trạng toàn thân và các xét nghiệm xếp các giai đoạn của UTV: giai đoạn 0, I, II, III, IV.

Lựa chọn các phương pháp điều trị theo giai đoạn

Việc lựa chọn cách thức điều trị tùy thuộc vào giai đoạn và các yếu tố sau:

* Kích thước của khối u, tình trạng hạch nách có di căn hay chưa.

* Các kết quả xét nghiệm.

* Đã mãn kinh hay chưa.

* Tình trạng sức khỏe chung.

Giai đoạn 0:

Ung thư biểu mô thể tùy tại chỗ: hầu hết không cần điều trị gì thêm sau khi đã lấy bỏ rộng u nhưng phải được theo dõi chặt chẽ.

Ung thư biểu mô thể ống tại chỗ: hầu hết bệnh nhân được phẫu thuật bảo toàn vú và tia xạ.

Giai đoạn I, II, IIIA: thường phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị. Thông thường bệnh nhân được phẫu thuật sau đó điều trị bổ trợ tùy theo kết quả xét nghiệm đánh giá mức độ lan tràn của bệnh sau mổ. Cố thể là xạ trị, hóa trị hoặc cả hai. Lựa chọn điều trị bảo tồn cần cân nhắc các yếu tố kích thước vị trí u, giai đoạn bệnh, kích thước tuyến vú, một số đặc tính liên quan như có thai hoặc cho con bú, điều kiện tia xạ và theo dõi…

Một số bệnh nhân nhất là giai đoạn II, IIA muộn có thể điều trị hóa chất trước khi mổ (gọi là hóa trị tân bổ trợ) làm cho cuộc mổ được thuận lợi hơn.

Giai đoạn IIB và IV: cần đánh giá kĩ tình trạng bệnh để xác định mục đích điều trị là chữa khỏi, kéo dài thời gian sống thêm hay chăm sóc nâng đỡ cơ thể về thể chất và tinh thần nâng cao chất lượng cuộc sống từ đó có thể lựa chọn các phương pháp điều trị thích hợp.

Các tác dụng phụ của điều trị

Các biện pháp điều trị ung thư vú thường rất nặng nề và phức tạp nên trong và sau điều trị thường gặp những tác động phụ không mong muốn. Các tác dụng phụ có thể khác nhau ở từng bệnh nhân, thậm chí khác nhau ở từng đợt điều trị trên cùng một bệnh nhân.

Phẫu thuật

Đau và quá cảm da vùng mổ.

Nhiễm khuẩn và chảy máu sau vùng mổ.

Đọng dịch sau vùng mổ có thể vài tuần đến vài tháng. Xử trí bằng chọc hút đôi khi cần phải bằng dẫn lưu.

Cảm giác mất cân bằng đặc biệt là ở những phụ nữ có tuyến vú to từ đó có thể dẫn đến những khó chịu ở vùng đầu, cổ và vai. Cần có những bài tập để khắc phục tình trạng này.

Cảm giác đau, tê bì, dị cảm, ở vùng ngực, vai, cánh tay, bên mổ do các nhóm thần kinh nhỏ bị tổn thương. Cảm giác này có thể tồn tại vài tuần hoặc vài tháng.

Phù bạch huyết: do phẫu thuật nạo vét hạch nách và tia xạ làm chậm quá trình lưu thông dịch bạch huyết từ cánh tay qua vùng nách. Biến chứng này có thể xuất hiện sớm từ vài tháng đến vài năm. Bệnh nhân cần bảo vệ cánh tay và bàn tay bên điều trị khỏi các tác động về vật lý với các biện pháp cụ thể như không đeo đồ trang sức chật, không làm nặng, tránh để bị đứt tay, côn trùng cắn, không tuyên truyền tránh bị bỏng nắng, bỏng nhiệt…Với mức độ nặng, nên gặp bác sĩ để chỉ dẫn cách khắc phục bằng các bài tập các dụng cụ hỗ trợ.

Xạ trị liệu

Mệt mỏi là biến chứng thường gặp đặc biệt là thời gian cuối của quá trình điều trị.

Vùng da điều trị bị sạm, đỏ, khô, ngứa, đến đợt cuối điều trị có thể viêm da ướt. Việc để vùng da này tự do trước không khí sẽ giúp cho chóng liền. Mặc áo rộng, chăm sóc nhẹ nhàng vùng da tránh bị kích thích về cơ học, nhiễm khuẩn và nhiệt độ. Các tác dụng phụ tại da sẽ mất sau khi dừng tia xạ một thời gian.

Hóa trị liệu

Hóa trị liệu cũng tác động đến các tế bào lành. Tác dụng phụ của hóa trị cũng phụ thuộc vào loại thuốc và liều thuốc. Nói chung các thuốc chống ung thư thường tác động mạnh đến các tế bào ung thư nhanh và các tác dụng phụ gặp phải là do chức năng mà các tế bào này đảm nhiệm bị ảnh hưởng:

Các tế bào máu: dẫn đến các bệnh nhiễm khuẩn, dễ bị chảy máu cảm giác yếu và mệt mỏi.

Các tế bào nang long: dẫn đến rụng lông tóc. Lông tóc sẽ dừng rụng sau khi đã dừng điều trị.

Các tế bào trong ống tiêu hóa: dẫn đến mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn… các tác dụng phụ này có thể điều chỉnh được bằng thuốc.

Một số thuốc có thể mất chức năng buồng trứng dẫn đến vô sinh và các biểu hiện của tình trạng mãn kinh. Một số biến chứng thường gặp là suy tim và bệnh lơ xi mê.

Điều trị nội tiết

Ở đây đề cập chủ yếu đến các tác dụng phụ của tamoxifen, loại thuốc nội tiết sử dụng rộng rãi nhất. Không phải mọi phụ nữ đều gặp phải tác dụng phụ của tamoxifen. Thuốc ngăn chặn tác động của estroghen trên tế bào, nói chung tác dụng phụ của thuốc giống như biểu hiện mãn kinh của các cơn nóng, tiết dịch âm đạo, đau đầu, mệt mỏi, khô âm đạo, gây nên các cục máu đông ở tĩnh mạch, đặc biệt là ở chân, phổi. Thuốc cũng có thể gây nên ung thư lớp cơ hoặc nội mạc tử cung.

Đối với những phụ nữ cắt buồng trứng tình trạng mãn kinh sẽ xuất hiện ngay sau các biểu hiện nặng hơn so với mãn kinh tự nhiên. Cần phải có sự chuẩn bị trước cho bệnh nhân về vấn đề này.

Điều trị sinh học

Thường xuất hiện các triệu chứng: sốt, ớn lạnh, buồn nôn, nôn, đau đầu, tiêu chảy, khó thở và đặc biệt có thể ảnh hưởng đến tim… các biểu hiện này thường nặng hơn sau lần điều trị đầu tiên.

Vấn đề tái tạo tuyến vú

Một số phụ nữ có thể tái tạo lại tuyến vú cùng lúc hoặc sau khi cắt tuyến vú, một số khác thích đeo vú giả, một số khác lại không muốn gì cả. Phẫu thuật tái tạo tuyến vú có thể sử dụng chất liệu độn bằng các túi chất dẻo hoặc sử dụng các vảy da cơ của bản thân. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi quyết định tái tạo.

4. Theo dõi theo điều trị

Khám lại sau điều trị giữ vai trò hết sức quan trọng, công việc này giúp đánh giá sự hồi phục của bản thân sự xuất hiện và mức độ của các tác dụng phụ của điều trị và phát hiện sớm sự trở lại của bệnh nếu có. Việc đánh giá kết quả của điều trị cũng dựa chủ yếu vào những thông tin thu được qua quá trình theo dõi sau điều trị. Thông thường trong 3 năm đầu tiên cứ 3 tháng bệnh nhân sẽ đến thăm khám 1 lần, sau 2 năm tiếp theo là 6 tháng một lần và sau đó là 1 năm/ lần. Tại mỗi lần khám bác sĩ sẽ hỏi và khám để phát hiện các tác dụng phụ của điều trị, khám kĩ tại chỗ để và toàn than để xem có tái phát và di căn xa hay không, bác sĩ cũng có thể tự chỉ định làm một số xét nghiệm nếu cần.

Phương pháp tự khám vú

Phương pháp tự khám vú được khuyến cáo tiến hành hàng tháng sau khi sạch kinh đối với phụ nữ từ 20 tuổi trở lên. Các bước tiến hành được mô tả theo trình tự sau:

Chuẩn bị: cởi áo, nơi tiến hành tự khám vú ở buồng ngủ là tốt nhất hoặc có thể là ở buồng tắm, có đầy đủ ánh sáng, có thể ngồi lên ghế hoặc đứng ở ghế miễn là thoải mái.

Quan sát: xuôi tay, quan sát xem có các thay đổi ở vú u cục dày lên, lõm da hoặc thay đổi màu sắc da.

Đưa tay ra sau gáy sau đó quan sát lại.

Chống tay lên hông làm cử động cơ ngực lên xuống bằng động tác nâng hai vai lên hay hạ hai vai xuống. Động tác này làm cho các thay đổi nếu có rõ hơn.

Nâng nhẹ đầu vú xem có dịch chảy ra hay không.

Sờ nắn:

Đưa tay phải ra đằng sau gáy.

Dùng tay trái sờ nắn vú phải, bốn ngón tay đặt sát vào nhau tạo thành một mặt phẳng, ép đều đặn nên các vùng khác nhau của tuyến vú vào vùng ngực theo hướng hình xoáy ốc và từ đầu vú trở ra ngoài.

Kiểm tra (từng vùng của vú) cả về phái hố nách.

Làm tương tự với hố bên phải.

Khi nằm:

Nằm ngửa thoải mái.

Đặt một gối mỏng ở dưới lưng bên trái.

Lặp lại quá trình khám như ở buồng tắm.

Chuyển gối làm lại ở phía bên phải.

 

TS. Nguyễn Văn Định

Trưởng khoa ngoại vú bệnh viện K

(TTVN số 7)

ung thư, vú, chẩn đoán, mổ, điều trị…

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng