Nghiên cứu giá trị của PET/CT trong đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ung thư đại trực tràng
(15:16 | 06/07/2015)
  - PET/CT có giá trị cao trong chẩn đoán khối u nguyên phát và đánh giá các tổn thương di căn ở các bệnh nhân ung thư đại trực tràng đồng thời giúp đánh giá hiệu quả điều trị. Đây là kết luận của các bác sĩ thuộc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai khi tiến hành nghiên cứu giá trị của PET/CT trong đánh giá hiệu quả điều trị của bệnh ung thư đại trực tràng.

TÓM TẮT

Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh ung thư thường gặp. PET/CT trong chẩn đoán giai đoạn bệnh, đánh giá tái phát, di căn xa… cho các bệnh nhân ung thư đại trực tràng được áp dụng nhiều trên thế giới. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá giá trị của PET/CT trong đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ung thư đại trực tràng.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả trên 134 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được chụp PET/CT tại Trung Tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 2 năm 2012.

Kết quả: tuổi trung bình là 56,13 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ là 1,62/1. Ung thư đại tràng hay gặp hơn ung thư trực tràng (81/53). PET/CT phát hiện được tổn thương tại khối u nguyên phát ở 100% số bệnh nhân có tổn thương u được khẳng định trên nội soi, trong đó 40,9% bệnh nhân ung thư đại tràng và 51,9% bệnh nhân ung thư trực tràng. Kích thước tổn thương u trung bình tại đại tràng, trực tràng là 5,78 ± 3,12 cm và 5,86 ± 3,07 cm, tương ứng. Giá trị SUV max trung bình cao ở các khối u tại đại tràng, trực tràng với 10,19 và 8,78 tương ứng. 16,4% (22/134) bệnh nhân có di căn phổi, 13,4% (18/134) bệnh nhân có di căn gan, 8,9% (12/134) bệnh nhân có di căn xương. Giá trị SUV max trung bình cao tại tổn thương di căn (phổi: 5,06; gan: 7,51; xương: 6,13). 30% bệnh nhân bệnh đáp ứng hoàn toàn, 50% bệnh nhân bệnh tiến triển khi đánh giá hiệu quả điều trị bằng PET/CT.

Kết luận: PET/CT có giá trị cao trong chẩn đoán khối u nguyên phát và đánh giá các tổn thương di căn ở các bệnh nhân ung thư đại trực tràng đồng thời giúp đánh giá hiệu quả điều trị.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư thường gặp, đứng hàng thứ 3 trong các loại bệnh ung thư chỉ sau ung thư phổi và ung thư vú. Bệnh hay gặp ở các nước phát triển, tuy nhiên tỉ lệ mắc bệnh ở các nước đang phát triển cũng tăng dần. Ở nước ta, tỉ lệ mắc ung thư đại trực tràng ngày càng tăng dần. Theo số liệu của Globocan 2008 cho thấy, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 4 ở nam và thứ 5 ở nữ. Chẩn đoán xác định bệnh ung thư đại trực tràng chủ yếu dựa vào nội soi đại trực tràng, sinh thiết tổn thương để chẩn đoán mô bệnh học. Để chẩn đoán giai đoạn bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh chủ yếu dựa vào siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng - lồng ngực, cộng hưởng từ tiểu khung, xạ hình xương… Những năm gần đây, PET/CT đã mở ra một hướng mới trong chẩn đoán giai đoạn bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị cho các bệnh nhân ung thư nói chung và các bệnh nhân ung thư đại trực tràng nói riêng [1], [5]. Tại Việt nam, hệ thống máy PET/CT được đưa vào hoạt động từ năm 2009, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về sử dụng PET/CT trong đánh giá hiệu quả của các phương pháp hóa trị, xạ trị trong điều trị bệnh ung thư đại trực tràng. Do đó chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của hóa - xạ trị trong điều trị bệnh ung thư đại trực tràng dựa vào hình ảnh PET/CT.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

134 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh là ung thư đại trực tràng và có chỉ định chụp PET/CT, bao gồm:

Các bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định là ung thư đại trực tràng trước đó, đã, đang được điều trị: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị chụp PET/CT để đánh giá đáp ứng sau điều trị và theo dõi tái phát, di căn.

Các bệnh nhân chưa được điều trị nhưng đã được chẩn đoán xác định là ung thư đại trực tràng chụp PET/CT để đánh giá giai đoạn bệnh trước khi đưa ra quyết định điều trị: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả hồi cứu và tiến cứu.

2.1. Quy trình kĩ thuật chụp PET/CT

Dược chất phóng xạ: dung dịch F-18 FDG (2-fluoro-2-deoxy-D-glucose), liều dùng 0,15 – 0,20 mCi/Kg cân nặng (7 - 12 mCi). 

Chuẩn bị bệnh nhân: bệnh nhân nhịn ăn trước 4 giờ; được khám lâm sàng xác định tình trạng chung, tiền sử bệnh. Đo cân nặng, chiều cao, mạch, huyết áp, nhiệt độ. Đo đường máu mao mạch. Sau tiêm thuốc phóng xạ, bệnh nhân nằm nghỉ ngơi yên tĩnh trong buồng cách ly, tránh ánh sáng và tiếng ồn mạnh, uống nhiều nước.

Chụp hình PET/CT: tiến hành sau tiêm F-18 FDG 45 - 60 phút.

Xử lý hình ảnh và nhận định kết quả: kết quả được phân tích, đánh giá và đưa ra nhận định cuối cùng sau khi khảo sát hình ảnh CT, hình ảnh PET, hình lồng ghép PET/CT về tính chất hấp thu, phân bố hoạt chất phóng xạ F-18 FDG. Các chỉ số định tính như kích thước, thể tích của tổn thương, tỉ trọng và định lượng qua chỉ số hấp thu hoạt chất phóng xạ chuẩn (Standard uptake value: SUV) được đo - tính cho mỗi tổn thương để kết hợp đánh giá kết quả cuối cùng.

2.2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh [2], [3]

Đánh giá đáp ứng theo RECIST (Response Evaluation Criteria in Solid Tumors).

Đáp ứng hoàn toàn: tất cả các tổn thương tan hoàn toàn.

Đáp ứng một phần: giảm ³ 30% tổng kích thước của các tổn thương đích (dưới 5 tổn thương/cơ quan và tối đa 10 tổn thương có thể đo lường được với đường kính dài nhất và thuận lợi cho việc đánh giá một cách chính xác) + tổn thương không phải đích: không tiến triển. Hoặc: tổn thương đích tan hoàn toàn + tổn thương không đích không tan hoàn toàn, không tiến triển.

Bệnh ổn định: tổn thương đích giảm dưới 30% hoặc tăng không quá 20% tổng kích thước + tổn thương không đích: không tiến triển.

Bệnh tiến triển: tăng trên 20% tổng kích thước của các tổn thương đích hoặc xuất hiện thêm tổn thương mới và hoặc tổn thương không đích tiến triển.

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 2 năm 2012 tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai.

3. Xử lý số liệu:

Các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

1. Tuổi và giới                         

 

Bảng 1. Phân bố nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Số bệnh nhân

%

Tuổi trung bình

Giới

≤ 40

16

11,9

56,13

Số bệnh nhân

%

41- 50

23

17,2

Nam

83

61,9

51 - 60

44

32,8

61 - 70

35

26,2

Nữ

51

38,1

≥ 70

16

11,9

Tổng

134

100

Tổng

97

100

Nhận xét: bệnh hay gặp ở những người trên 50 tuổi. Trong đó, nhóm tuổi hay gặp nhất là 51 - 60 tuổi (32,8%). Tuổi trung bình: 56,13 tuổi. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 25 tuổi; nhiều tuổi nhất là 80 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ là 1,62/1.

2. Vị trí khối u và loại mô bệnh học

Bảng 2. Vị trí khối u và loại mô bệnh học

 

 

Số bệnh nhân

%

Vị trí khối u

Đại tràng ngang

3

2,2

Đại tràng phải

29

21,6

Đại tràng sigma

24

17,9

Đại tràng trái

25

18,7

Trực tràng

53

39,6

Loại mô bệnh học

Ung thư biểu mô tuyến

133

99,0

Ung thư biểu mô vảy

1

1,0

Tổng

134

100

Nhận xét: bệnh nhân ung thư đại tràng nhiều hơn ung thư trực tràng (81/53 bệnh nhân). Trong các bệnh nhân ung thư đại tràng, số lượng bệnh nhân ung thư đại tràng phải, sigma, trái gần tương đương nhau (29/24/25 bệnh nhân tương ứng). Đa số các bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến (99%) chỉ có 1 bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô vảy (1%).

3. Một số đặc điểm hình ảnh PET/CT trong chẩn đoán u của các bệnh nhân trong nghiên cứu

Trong số 134 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được chụp PET/CT tại Bệnh viện Bạch mai, có 44 bệnh nhân có hình ảnh khối u (trước điều trị, u tái phát) phát hiện được trên hình ảnh nội soi đại trực tràng và PET/CT. Trong phần này, chúng tôi chỉ mô tả 44 bệnh nhân có khối u đại trực tràng. Những bệnh nhân còn lại đã được phẫu thuật, xạ trị, hóa trị… hiện không có tổn thương tại u đại trực tràng nên chúng tôi sẽ có một nghiên cứu khác về các bệnh nhân này.

3.1. Khối u trên hình ảnh PET/CT

Bảng 3. Vị trí khối u trên hình ảnh PET/CT, mức độ xâm lấn của khối u

và giá trị SUV max tại khối u đại tràng - trực tràng

Vị trí tổn thương u

Số bệnh nhân

%

Giá trị

nhỏ nhất

Giá trị cao nhất

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Đại tràng

Phải

12

66,7

Trái

2

11,1

2,11

18,95

10,19

4,47

Sigma

3

16,7

Ngang

1

5,5

Tổng

18

100

Trực tràng

Cao

4

15,4

2,95

17,28

 

8,78

 

 

3,69

Trung bình

2

7,7

Thấp

18

69,2

Diện mổ vùng tiểu khung - trực tràng

2

7,7

Tổng

26

100

Mức độ xâm lấn của khối u

Bàng quang

4

 

Tiền liệt tuyến

3

 

 

Xương cùng

3

 

 

 

Thành chậu

3

 

 

 

 

 

Nhận xét: số bệnh nhân ung thư trực tràng phát hiện được trên PET/CT cao hơn số bệnh nhân đại tràng (26/18 bệnh nhân). Trong các bệnh nhân ung thư đại tràng chủ yếu là tổn thương tại đại tràng phải (66,7%); trong các bệnh nhân có tổn thương u tại trực tràng chủ yếu là tổn thương tại trực tràng thấp (69,2%). Giá trị SUV max trung bình của các khối u tại đại tràng và trực tràng đều cao (10,19 và 8,78 tương ứng). Một số bệnh nhân ung thư trực tràng có tổn thương xâm lấn bàng quang, tiền liệt tuyến, xương cùng; một số bệnh nhân ung thư đại tràng có tổn thương xâm lấn thành chậu.

3.2. Kích thước khối u đại tràng và trực tràng trên hình ảnh PET/CT

Biểu đồ 1. Kích thước khối u đại tràng và trực tràng trên hình ảnh PET/CT

Nhận xét: kích thước khối u chủ yếu từ 2 đến 5 cm: đại tràng (7/18 = 38,9%); trực tràng (14/26 = 53,8%). Kích thước tổn thương u tại đại tràng trung bình là 5,78 ± 3,12 cm và tại trực tràng trung bình là 5,86 ± 3,07 cm

4. PET/CT trong phát hiện các tổn thương di căn

Bảng 5. Các tổn thương di căn PET/CT phát hiện được và

giá trị SUV max tại các tổn thương di căn

SUV max

Số bệnh nhân

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị cao nhất

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Phổi

22

1,57

16,95

5,06

3,58

Gan

18

4,08

18,50

7,51

3,38

Hạch cổ

6

2,90

9,53

6,22

2,93

Hạch trung thất

15

3,09

10,42

5,11

1,71

Hạch ổ bụng

24

2,02

14,57

7,12

2,98

Xương

12

3,54

10,00

6,13

2,34

Vị trí khác

20

3,10

15,50

7,11

3,36

Nhận xét: giá trị SUV max trung bình cao nhất tại tổn thương di căn gan, thấp nhất tại tổn thương di căn phổi, giá trị SUV max trung bình tại các tổn thương đều cao hơn ngưỡng để chẩn đoán di căn xa (2,5).

5. PET/CT trong đánh giá kết quả điều trị

Có 42 bệnh nhân chưa được điều trị hóa trị trước đó trong đó có một số bệnh nhân đã phẫu thuật và một số bệnh nhân chưa phẫu thuật.

Bảng 6. Điều trị hóa trị trước khi chụp PET/CT

Số chu kỳ hóa trị

Số bệnh nhân

Tỉ lệ

0

42

31,3

1 - 6

20

14,9

7 - 12

62

46,3

> 12

10

7,5

Nhận xét: đa số các bệnh nhân đã kết thúc hóa trị và chụp PET/CT để đánh giá sau điều trị phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Số chu kỳ hóa trị chủ yếu là 12 đợt (chu kỳ 14 ngày của phác đồ FOLFOX4 hoặc FOLFIRI). Một số bệnh nhân được điều trị hóa trị phác đồ XELOX, FUFA…

Bảng 7. Số lần chụp PET/CT và tổn thương tại các thời điểm chụp

STT bệnh nhân

Vị trí u và các phương pháp điều trị trước chụp lần 1

Phát hiện tổn thương

Điều trị sau chụp lần 1

SUVmax ở tổn thương trên PET/CT tại các thời điểm chụp

Kích thước tổn thương tại các thời điểm chụp (cm)

1

2

3

1

2

3

1

Đại tràng sigma

đã PT + HT

L1 và 2: xương đùi phải

Chống hủy xương

(chụp lần 2 sau 6 tháng)

8,5

 

4,3

 

Không đo

2

Đại tràng sigma đã

PT, HT, PT

L1,2,3: thành bụng

HT

(chụp lần 2 sau 3 tháng, lần 3 sau lần 2 là 6 tháng)

9,22

8,34

7,29

1,3

1,2

3,2

L1,2,3: mạc treo ruột

6,77

9,04

5,94

1,5

2,2

2,6

3

Đại tràng trái chưa điều trị

L1: Đại tràng trái

PT + HT

16,2

 

 

3,6

 

 

L2: Thành bụng

Chụp lần 2 sau 9 tháng

 

12,6

 

 

2,3

 

L2: Hạch ổ bụng

 

10,53

 

 

3,6

 

4

Trực tràng đã HT 5 đợt

L1: Bình thường

HT tiếp

 

 

 

 

 

 

Lần 2: Phổi 2 bên

Chụp lần 2 sau 10 tháng

 

2,92

 

 

1,3

 

5

Trực tràng thấp xâm lấn âm đạo đã PT

L1: Âm đạo

HT

4,32

Tan hết

Tan hết

2,0

 

 

L1,2: Thành chậu

4,06

3,9

Tan hết

3,4

2,5

Tan hết

L3: Hạch cổ

Chụp lần 2 sau 6 tháng, lần 3 sau lần 2 là 4 tháng

 

 

2,9

 

 

0,9

L2,3: Hạch ổ bụng

5,95

14,57

 

 

1,7

3,6

6

Đại tràng phải di căn thành bụng đã PT+HT

L1: Thành bụng

Hóa - xạ trị

 

8,25

 

 

4,46

 

 

L2: bình thường

Chụp lần 2 sau 8 tháng

 

 

 

 

 

 

7

Trực tràng thấp chưa điều trị

L1: U trực tràng

Hóa - xạ trị + PT + HT

7,70

 

 

5,4

 

 

L2: u trực tràng

Chụp lần 2 sau 5 tháng

 

7,16

 

 

5,0

 

8

Đại tràng phải đã PT+HT

L1, 2: bình thường

Chụp lần 2 sau 11 tháng

 

 

 

 

 

 

9

Đại tràng sigma đã PT

L1: gan phải trái

HT + cấy hạt phóng xạ vào tổn thương gan

7,06

Khó đánh giá

 

4,5

Khó đánh giá

 

L1, 2: hạch trung thất

Chụp lần 2 sau 3 tháng

5,75

6,01

 

1,2

1,2

 

10

Trực tràng chưa điều trị

L1: u trực tràng

Hóa - xạ trị + PT + HT

11,09

 

 

3,8

 

 

L2: Bình thường

Chụp lần 2 sau 15 tháng

 

 

 

 

 

 

(L: số lần chụp; PT: phẫu thuật; HT: hóa trị)

Nhận xét: chỉ có 10 bệnh nhân được chụp PET/CT hai lần, trong đó có 2 bệnh nhân được chụp PET/CT 3 lần để đánh giá hiệu quả của điều trị hóa trị, xạ trị.

Bảng 8. Đánh giá hiệu quả điều trị nhờ hình ảnh PET/CT

Đáp ứng

Số bệnh nhân

Đáp ứng hoàn toàn

3

Đáp ứng một phần

1

Bệnh giữ nguyên

1

Bệnh tiến triển

5

Tổng

10

Nhận xét: trong 10 bệnh nhân được chụp PET/CT hai đến ba lần để đánh giá hiệu quả điều trị, có 3 bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn sau điều trị bệnh.

IV. BÀN LUẬN

134 bệnh nhân ung thư đại trực tràng trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, ở cả hai giới nam và nữ nhóm tuổi hay mắc bệnh là trên 50 tuổi (70,9%) trong đó nhóm tuổi từ 51 đến 60 hay gặp nhất (32,8%); điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Văn Hiếu bệnh chủ yếu gặp trên 40 tuổi [1]. Có 53 bệnh nhân ung thư trực tràng (chiếm 39,6%); ung thư đại tràng 81 bệnh nhân (60,4%). Brian G. Czito cho thấy tỉ lệ mắc ung thư đại tràng thường cao hơn trực tràng [3]. Nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân ung thư đại tràng được chụp PET/CT cũng cao hơn, tuy nhiên tỉ lệ này không đại diện cho tỉ lệ mắc bệnh giữa hai loại ung thư này mà còn phụ thuộc vào chỉ định xét nghiệm PET/CT của bác sĩ và kinh tế của gia đình bệnh nhân.

Về loại mô bệnh học: 1 bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô vảy (trực tràng); 133 bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến với các mức độ biệt hóa khác nhau: kém biệt hóa, biệt hóa vừa; biệt hóa cao; ung thư biểu mô tuyến chế nhầy. Điều này phù hợp vì đa số các bệnh nhân ung thư đại trực tràng có mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến; còn loại mô bệnh học ung thư biểu mô vảy chủ yếu hay gặp ở ống hậu môn. Trong nghiên cứu này PET/CT phát hiện được 44 bệnh nhân có tổn thương u tại đại tràng và trực tràng; 18 bệnh nhân có tổn thương tại đại tràng (trong đó chủ yếu là tổn thương tại đại tràng phải chiếm 66,7%), 26 bệnh nhân có tổn thương u tại trực tràng trong đó chủ yếu là trực tràng thấp (69,2%). Kích thước khối u chủ yếu từ 2 đến 5 cm: đại tràng (7/18 = 38,9%); trực tràng (14/26 = 53,8%). Kích thước tổn thương u tại đại tràng trung bình là 5,78 ± 3,12 cm và tại trực tràng trung bình là 5,86 ± 3,07 cm. Tác giả O'Connor và cs cho thấy PET/CT có giá trị trong chẩn đoán khối u nguyên phát, mức độ lan rộng của khối u và các tổn thương tái phát, di căn trong bệnh ung thư đại trực tràng [7].

Giá trị SUV max trung bình của các khối u tại đại tràng và trực tràng đều cao (10,19 và 8,78 tương ứng). Tuy nhiên với các tổn thương đại trực tràng cần phải kết hợp với nội soi để chẩn đoán hình thái khối u và sinh thiết u để chẩn đoán mô bệnh học còn PET/CT giúp đánh giá mức độ xâm lấn của khối u. Với các tổn thương ngoài đại trực tràng có SUV ≥ 2,5 được coi là tổn thương dương tính trên PET/CT và nghĩ nhiều đến tổn thương di căn. Trong nghiên cứu này, đa số các tổn thương di căn đều có giá trị SUVmax > 2,5. Giá trị SUV max trung bình tại phổi là 5,06; tại gan là 7,51; tại hạch ổ bụng là 7,12; tại tổn thương di căn xương là 6,13. Trong 134 bệnh nhân được chụp PET/CT có 22 bệnh nhân có tổn thương di căn phổi, 18 bệnh nhân có tổn thương di căn gan, 12 bệnh nhân có tổn thương di căn xương được phát hiện trên hình ảnh PET/CT; ngoài ra PET/CT còn phát hiện được các tổn thương di căn hạch ổ bụng, hạch cổ, hạch trung thất, di căn thành bụng, tổn thương xâm lấn âm đạo, tổn thương xâm lấn bàng quang, tổn thương xâm lấn tiền liệt tuyến. Việc chẩn đoán sớm các tổn thương di căn, các tổn thương xâm lấn tổ chức lân cận đã giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra hướng điều trị hợp lý nhất cho bệnh nhân.

Có 42 bệnh nhân khi được chụp PET/CT thì chưa được điều trị hóa trị trước đó, trong đó có một số bệnh nhân đã phẫu thuật và một số bệnh nhân chưa phẫu thuật. Số bệnh nhân còn lại (92 bệnh nhân) đã được điều trị hóa trị từ một chu kỳ đến nhiều chu kỳ. Các phác đồ hóa trị sử dụng trong điều trị chủ yếu là phác đồ FOLFOX4, FOLFIRI, XELOX, FUFA… Trong các trường hợp bệnh nhân này chủ yếu bác sĩ lâm sàng chỉ định chụp PET/CT nhằm đánh giá tình trạng bệnh sau điều trị, cũng như đánh giá tình trạng đáp ứng để đưa ra quyết định điều trị tiếp theo. Một số bệnh nhân sau khi chụp PET/CT đã giúp các bác sĩ lâm sàng thay đổi phác đồ điều trị, thay đổi số đợt hóa trị điều trị. 10 bệnh nhân được chụp PET/CT 2 lần; trong đó có 3 bệnh nhân được chụp PET/CT 3 lần để đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị. Với việc đánh giá trước và sau điều trị bằng PET/CT đã mang lại lợi ích cao: đánh giá dựa vào cả SUVmax, kích thước tổn thương, tình trạng di căn… trước và sau điều trị. Một số bệnh nhân kích thước tổn thương không giảm nhưng khi chụp PET/CT lần 2 cho thấy SUVmax giảm (giảm hấp thu F18-FDG hơn) cũng giúp định hướng được phương pháp điều trị đó có hiệu quả và bệnh nhân cần được tiếp tục điều trị. Với các tổn thương tăng kích thước, xuất hiện thêm tổn thương mới, tổn thương tăng hấp thu F18-FDG cho thấy bệnh tiến triển và các bác sĩ lâm sàng cần thay đổi phác đồ điều trị để giúp tăng hiệu quả điều trị bệnh cho bệnh nhân. Thông qua đánh giá hiệu quả điều trị bệnh bằng PET/CT, chúng tôi đã lựa chọn được phương pháp điều trị tiếp theo: theo dõi, phẫu thuật, hóa trị, xạ trị… Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác khi nhận thấy PET/CT giúp thay đổi quyết định điều trị. Nghiên cứu của tác giả Delbeke D cho thấy PET/CT có giá trị trong chẩn đoán các tổn thương tái phát và di căn xa nhất là khi có nồng độ CEA tăng cao [4]. Tác giả Ozkan E và cs khi nghiên cứu trên 69 bệnh nhân ung thư đại trực tràng có nồng độ CEA tăng cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu trong phát hiện các tổn thương tái phát là 97 và 61%, tương ứng. Không có mối tương quan giữa mức độ tăng CEA và giá trị SUV max (mức độ hấp thu F-18 FDG). Độ nhạy và độ đặc hiệu của PET/CT là 100 và 60% ở nhóm có nồng độ CEA từ 5 - 9,9 ng/ml;100 và 75% ở nhóm có nồng độ CEA 10 - 14,9 ng/ml; 95 và 62% ở nhóm có nồng độ CEA ≥ 15 ng/ml. Tính chung để đánh giá tổn thương tái phát, di căn thì độ nhạy và độ đặc hiệu của FDG PET/CT là 98 và 85% trong khi của CT là 73 và 86%, tương ứng [8]. Mittal BR và cs khi nghiên cứu 73 bệnh nhân ung thư đại trực tràng trong đó có 22 bệnh nhân có nồng độ CEA < 3 ng/ml. 51 bệnh nhân còn lại có nồng độ CEA tăng. CT phát hiện được 23 (45%) bệnh nhân trong khi PET/CT phát hiện được 36 (71%) bệnh nhân có tổn thương tái phát và di căn. Ở nhóm có nồng độ CEA 3 - 5 ng/ml, CT dương tính 4/13 bệnh nhân (30%) và PET/CT dương tính ở 7/13 (53%) bệnh nhân. Ở nhóm có nồng độ CEA 5 - 10 ng/ml CT dương tính ở 3/9 (33%) bệnh nhân và PET/CT dương tính ở 6/9 (67%) bệnh nhân. Ở nhóm có nồng độ CEA 10 - 20 ng/ml CT dương tính ở 5/11(45%) bệnh nhân và PET/CT dương tính ở 7/11(63%) bệnh nhân. Ở nhóm CEA 20 - 50 ng/ml CT dương tính ở 5/9 (55%) bệnh nhân và PET/CT dương tính ở 7/9 (77%) bệnh nhân. Ở nhóm có nồng độ CEA > 50 ng/ml CT dương tính ở 6/9 (67%) bệnh nhân và PET/CT dương tính ở 9/9 (100%) bệnh nhân. Ngoài 23 bệnh nhân CT phát hiện ra tổn thương PET/CT phát hiện thêm được 17 tổn thương và đã giúp thay đổi quyết định điều trị ở 11 bệnh nhân. PET âm tính trên 4 bệnh nhân mà CT nghi ngờ có tổn thương. Tính trên 51 bệnh nhân có nồng độ CEA tăng PET/CT đã giúp thay đổi quyết định điều trị ở 28 (55%).

V. KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu 134 bệnh nhân có chẩn đoán xác định là ung thư đại trực tràng được chụp PET/CT tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình là 56,13 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ là 1,62/1.

Ung thư đại tràng hay gặp hơn ung thư trực tràng (81/53).

99% bệnh nhân có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến, chỉ có 1% là ung thư biểu mô vảy.

2. Giá trị của PET/CT trong chẩn đoán và đánh giá hiệu quả điều trị

Trong tổng số 134 bệnh nhân được chụp PET/CT, chỉ có 44 (32,8%) bệnh nhân có tổn thương u tại đại tràng và trực tràng tại thời điểm chụp PET/CT:

Kích thước tổn thương u trung bình tại đại tràng, trực tràng là 5,78 ± 3,12 cm và 5,86 ± 3,07 cm, tương ứng.

18 (40,9%) bệnh nhân ung thư đại tràng và 26 (59,1%) bệnh nhân ung thư trực tràng; giá trị SUV max trung bình cao ở các khối u tại đại tràng, trực tràng với 10,19 và 8,78 tương ứng.

16,4% (22/134) bệnh nhân có di căn phổi, 13,4% (18/134) bệnh nhân có di căn gan, 8,9% (12/134) bệnh nhân có di căn xương. Giá trị SUV max trung bình cao tại tổn thương di căn (phổi: 5,06; gan: 7,51; xương: 6,13).

30% bệnh nhân bệnh đáp ứng hoàn toàn, 50% bệnh nhân bệnh tiến triển khi đánh giá hiệu quả điều trị bằng PET/CT và PET/CT đã giúp lựa chọn phương pháp điều trị tiếp theo.

Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy PET/CT có vai trò quan trọng trong đánh giá các tổn thương khối u, di căn trong bệnh ung thư đại trực tràng trước, trong và sau điều trị bệnh đặc biệt giúp đánh giá hiệu quả điều trị.   

 

Mai Trọng Khoa[*], Phạm Cẩm Phương*

[*] Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Hiếu, Võ Văn Xuân (2007), “Ung thư đại trực tràng và ống hậu môn”, Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản Y học, 223-235.

2. Brian G. Czito, Christopher G. Willett (2010), “Rectal cancer-International Perspectioves on Multimodality Management”, Springer, Germany.

3. Colon cancer and Rectal cancer (2011), NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology, version 2.

4. Delbeke D, Martin WH  (2004), “PET and PET-CT for evaluation of colorectal carcinoma”, Semin Nucl Med, Jul;34(3):209-23.

5. GLOBOCAN 2008

6. Mittal BR, Senthil R, Kashyap R et al (2011), “18F-FDG PET-CT in evaluation of postoperative colorectal cancer patients with rising CEA level”, Nucl Med Commun. Sep;32(9):789-93.

7. O'Connor OJ, McDermott S et al , (2011), “The Use of PET-CT in the Assessment of Patients with Colorectal Carcinoma:, Int J Surg Oncol, 2011:846512. Epub 2011 Jul 3.

8. Ozkan E, Soydal C, Araz M, Kir KM, Ibis E (2012),  “The role of 18F-FDG PET/CT in detecting colorectal cancer recurrence in patients with elevated CEA levels”, Nucl Med Commun. Apr;33(4):395-402.

Hình ảnh minh họa:

 

Khối u

 

Khối u

 

Khối u đã hết

 

Khối u đã hết

Tổn thương u trước điều trị

Tổn thương u đã hết sau điều trị

 

 


bệnh nhân ung thư, ung thư đại trực tràng, PET/CT,

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác