Nghiên cứu hội chứng ngưng thở khi ngủ ở bệnh nhân béo phì
(10:07 | 24/03/2015)
  - Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội nghiên cứu béo phì (2003), có hơn 1,7 tỷ người trưởng thành bị béo phì [14] và béo phì được xem là yếu tố nguy cơ của hội chứng ngưng thở khi ngủ [18].

TÓM TẮT

Đặt vấn đề

Hiện nay, tỷ lệ béo phì đang gia tăng và trở thành vấn đề sức khỏe rất được quan tâm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội nghiên cứu béo phì (2003), có hơn 1,7 tỷ người trưởng thành bị béo phì [14] và béo phì được xem là yếu tố nguy cơ của hội chứng ngưng thở khi ngủ [18].

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định đặc điểm lâm sàng của hội chứng ngưng thở khi ngủ và các thông số trên máy đa ký giấc ngủ StarDust 2 ở bệnh nhân béo phì. 2. Đánh giá mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở với chỉ số khối cơ thể, vòng bụng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

32 bệnh nhân béo phì tuổi ≥ 18 khám và điều trị tại khoa Nội tim mạch của Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2012 đến tháng 4/2013. Đánh giá mức độ buồn ngủ vào ban ngày với thang điểm Epworth, chẩn đoán hội chứng ngưng thở khi ngủ bằng máy StarDust 2 (Respironic, Đức). Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Kết quả

- Tuổi trên 50 tuổi: 71%, độ tuổi trung bình 55,28 ± 11,93; ngáy chiếm 78,1%; đau đầu buổi sáng: 37,5%; buồn ngủ ban ngày: 31,2%; không tập trung làm việc: 46,9%; Tỷ lệ thang điểm Epworth ≥ 10 điểm chiếm 16%.

Rối loạn lipid máu: 78,1%; tăng huyết áp: 56,1%; bệnh động mạch vành: 37%; hút thuốc lá: 25%; đái tháo đường:9,3%; suy tim: 6,3%; tai biến mạch máu não: 3,1%.

- Chỉ số ngưng, giảm thở  ≥ 5 lần/giờ chiếm 96,9 %; chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ≥ 5 lần/giờ chiếm 46,6 %; chỉ số giảm độ bão hòa oxy máu > 5 % chiếm 78,1 %.

- Có mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở và chỉ số khối cơ thể (r = 0,392 với p < 0,05); Có mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở và vòng bụng (r =0,507 với p = 0,01).

Kết luận

Độ nặng của hội chứng ngưng thở khi ngủ tính theo AHI tương quan với mức độ béo phì theo BMI, vòng bụng.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, tỷ lệ béo phì đang gia tăng và trở thành vấn đề sức khỏe rất được quan tâm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội nghiên cứu béo phì, có hơn 1,7 tỷ người trưởng thành bị béo phì [14]và béo phì được xem là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh như đái tháo đường, bệnh mạch vành, ung thư, hội chứng ngưng thở khi ngủ [18].

Ảnh minh họa

Hội chứng ngưng thở khi ngủ được đặc trưng bởi sự đóng lại đường hô hấp trên lặp đi lặp lại trong khi ngủ, dẫn tới tình trạng thiếu nồng độ oxy và tăng carbonic ở trong máu [19].Tình trạng này gây nên những stress sinh lý thường xuyên trong khi ngủ, gây ra các triệu chứng thường gặp như buồn ngủ ban ngày, giảm khả năng tập trung làm việc [11], tăng nguy cơ gặp phải tai nạn khi tham gia giao thông [6].

Hội chứng ngưng thở đã được nghiên cứu 30 năm qua và hiện ngày càng phổ biến. Tỷ lệ mắc bệnh tại các nước châu Âu là 4% ở nam và 2% ở nữ [25]. Tại châu Á tỷ lệ ngưng thở khi ngủ cũng tương tự như bên Âu Mỹ [4]. Tuy nhiên công trình nghiên cứu ở Việt Nam lại nhận xét đa số bệnh nhân ngưng thở khi ngủ không béo phì như các nước phương Tây [3]. Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hội chứng ngưng thởkhi ngủ ở bệnh nhân béo phì tại bệnh viện trường Đại Học Y Dược Huếvới mục tiêu nghiên cứu:

1. Xác định đặc điểm lâm sàng của hội chứng ngưng thở khi ngủ và các thông số trên máy đa kí hô hấp ở bệnh nhân béo phì.

2.Đánh giá mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở với chỉ số khối cơ thể, vòng bụng.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

32 bệnh nhân béo phì tuổi ≥ 18 khám và điều trị tại khoa Nội Tim mạch của Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2012 đến tháng 4/2013.

1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn béo phì tại Việt Nam với BMI≥ 25 kg/m2[1].

1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân suy tim nặng, bệnh phổi mãn tính, có khối u lớn vùng hầu họng, cấu trúc bất thường do dị dạng vùng hàm mặt hoặc bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.1. Thang điểm Epworth

Chọn điểm số thích hợp nhất (tương ứng với mức độ buồn ngủ) cho mỗi tình huống dưới đây, trong đó:

0: Không bao giờ buồn ngủ  1: Ít khi buồn ngủ (nhẹ)

2: Thường ngủ gật                  3: Luôn luôn buồn ngủ

Tình huống:

-    Ngồi đọc sách báo.

-    Xem truyền hình.

-    Ngồi ở nơi công cộng (công viên, nhà hát…).

-    Làm khách trên xe ô tô chạy liên tục không nghỉ trên 1 giờ.

-    Nằm xuống nghỉ ngơi vào buổi chiều trong các tình huống cho phép.

-    Ngồi nói chuyện với ai đó.

-    Ngồi nghỉ sau ăn trưa, không uống rượu.

-    Ngồi trong ô tô khi xe dừng vài phút.

Tính tổng thang điểm Epworth: Lớn hơn 10 điểm chứng tỏ có ý nghĩa buồn ngủ vào ban ngày [19].

2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng ngưng thở khi ngủ

A. Bệnh nhân có một trong các biểu hiện sau:

1. Bệnh nhân than phiền về những cơn buồn ngủ không chủ ý trong thời gian thức, hay buồn ngủ vào ban ngày, ngủ không đủ giấc vào ban đêm, cảm giác mệt mỏi hoặc mất ngủ.

2. Bệnh nhân thức dậy với cảm giác khó thở, thở hổn hển hoặc sặc.

3. Người ngủ cùng giường ghi nhận ngáy to hoặc thở ngắt quãng khi ngủ.

B. Dùng máy phân tích đa miên ký cho thấy:

1. Nhiều hơn hoặc bằng 5 khoảng ngưng thở trên 10 giây/giờ. Khoảng ngưng thở này có thể là ngưng thở dạng tắc nghẽn, giảm thông khí.

2. Có bằng chứng gắng sức của cơ hô hấp trong thời gian xảy ra khoảng ngưng thở.

C. Dùng máy phân tích đa miên ký cho thấy:

1. Nhiều hơn hoặc bằng 15 khoảng ngưng thở trên 10 giây/giờ. Khoảng ngưng thở này có thể là ngưng thở dạng tắc nghẽn, giảm thông khí.

2. Có bằng chứng gắng sức của cơ hô hấp trong thời gian xảy ra khoảng ngưng thở.

D. Các rối loạn này không thể giải thích được bằng các rối loạn giấc ngủ khác, các rối loạn do dùng thuốc hoặc về thần kinh

Chẩn đoán hội chứng ngưng thở khi ngủ khi có tiêu chuẩn A + B + D hoặc C + D [20].

2.3. Kĩ thuật đo đa kí giấc ngủ

2.3.1. Tiến hành

Bệnh nhân được giải thích kĩ lưỡng về kĩ thuật đo và kí xác nhận vào giấy đồng ý thực hiện kĩ thuật. Bệnh nhân ngủ đêm ngay tại giường bệnh của mình trong quá trình đo.Sử dụng máy StarDust II do Respironics (Đức) sản xuất.

Đo theo quy trình hướng dẫn của máy StarDust II bao gồm: đeo thiết bị lên bụng bệnh nhân qua một dây đeo cổ và một đai quanh bụng, đeo hệ thống cảm biếnqua mũi bệnh nhân. Sau đó, sẽ lắp bộ phận đo nồng độ SpO2 vào đầu ngón tay trỏ của bệnh nhân. Cuối cùng bật công tắc máy trên thiết bị và cho bệnh nhân đi ngủ.

Bệnh nhân sẽ được tháo máy vào sáng hôm sau, sau khi bệnh nhân thức dậy.

Hình 1. Máy đa kí hô hấp StarDust II tại Đơn vị chẩn đoán và điều trị rối loạn giấc ngủ Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế 

2.3.2. Đánh giá kết quả trên máy đa kí hô hấp

-      Chỉ số ngưng thở giảm thở AHI ( số lần ngưng và giảm thở kéo dài trên 10 giây trên mỗi giờ), phân thành 4 nhóm:

+ Nhỏ hơn 5 lần/giờ.

+ Từ 5 đến < 15 lần/giờ.

+ Từ 15 đến < 30 lần/giờ.

+ Lớn hơn hoặc bằng 30 lần/giờ[24].

2.4. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Medcalc 12.0 và SPSS 18.0. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p< 0,05.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm lâm sàng

1.1.Phân bố theo tuổi và giới

Nhóm tuổi 50-64 chiếm tỉ lệ cao nhất 59,4%, độ tuổi trung bình 55,28 ± 11,93.

Sự khác biệt giữa nhóm nam và nữ không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

1.2. Triệu chứng lâm sàng

Bảng 1.Triệu chứng lâm sàng 

Triệu chứng lâm sàng

Số lượng

Tỷ lệ %

Ngáy to

25

78,1

Đau đầu buổi sáng

12

37,5

Buồn ngủ ban ngày

10

31,2

Không tập trung làm việc

15

46,9

 P

<0,05

Nhận xét: Triệu chứng ngáy chiếm tỉ lệ cao nhất 78,1% (p<0,05).

1.3. Các yếu tố nguy cơ

Bảng 2. Phân bố các yếu tố nguy cơ của mẫu nghiên cứu

Yếu tố nguy cơ

Số lượng

Tỷ lệ %

Rối loạn lipid máu

25

78,1

Tăng huyết áp

18

56,3

Bệnh mạch vành

12

37,5

Hút thuốc lá

8

25

Đái tháo đường

3

9,3

Suy tim

2

6,3

Tai biến

1

3,1

P

<0,0001

 

Nhận xét: Rối loạn lipid chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 78%, cao huyết áp đứng thứ 2 chiếm 56,3% (p<0,0001), tỷ lệ bệnh mạch vành  37,5%.

2. Đặc điểm các thông số trên máy đa kí hô hấp

2.1. AHI theo phân loại

Bảng 3. AHI theo phân loại

Phân loại

<5 lần/giờ

≥ 5 lần/giờ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Trung ương

25

78,1

7

21,9

Tắc nghẽn

19

59,4

13

46,6

Hỗn hợp

29

90,6

3

9,3

Giảm thông khí

2

6,3

30

93,8

AHI

1

3,1

31

96,9

P

<0,0001

 

Nhận xét: Tỷ lệ AHI ≥ 5 lần/giờ chiếm 96,9 %, tỷ lệ OA ≥ 5 lần/giờ chiếm 46,6%, tỷ lệ HY ≥ 5 lần/giờ chiếm 93,9% với p< 0,001.

2.2. Chỉ số giảm độ bão hòa oxy máu

Bảng 4. Chỉ số giảm độ bão hòa oxy máy 

Chỉ số giảm bão hòa oxy máu

Số lượng

Tỷ lệ

<5

7

21,9

≥5

25

78,1

Tổng

32

100

P

<0,05

Nhận xét: Chỉ số giảm bão hòa oxy ≥5 chiếm 78,1 %; p<0,05.

3. Mối tương quan giữa BMI và AHI

Biểu đồ 1.Mối tương quan giữa BMI và AHI 

Nhận xét: Có mối tương quan giữa BMI và AHI(r = 0,392 với p<0,05).

4. Mối tương quan giữa vòng bụng và AHI

Biểu đồ 2. Mối tương quan giữa vòng bụng và AHI 

Nhận xét: Có mối tương quan giữa vòng bụng và AHI (r = 0,507 với p =0,01).

IV. BÀN LUẬN

1. Đặc điểm chung

Béo phì ngày càng gia tăng theo sự phát triển kinh tế thế giới, nhận thấy có sự gia tăng theo tuổi, lứa tuổi gặp cao nhất là trên 30 tuổi [1]. Một trong những lý do gây tăng cân, béo phì ở nhóm người trung niên, cao tuổi là do tốc độ chuyển hóa cơ bản của cơ thể suy giảm. T lệ béo phì thay đổi tỳ theo tuổi, cao nhất ở lứa tuổi trên 50 (Âu Mỹ) [1]. Trong nghiên cứu này, nhận thấy lứa tuổi từ trên 50 chiếm 71%, trong đó tập trung cao nhất ở lứa tuổi từ 50-64 (p<0,0001) cũng phù hợp với nhận định trên.

Tỷ lệ nữ giới béo phì nhiều hơn nam [1],[18]. Tại Mỹ khoảng 20% nam giới và 25% nữ giới bị béo phì. Tại Urban 60% nam và 75% nữ giới béo phì [18]. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, nam 53,1% và nữ 46,9% có p>0,05 nên sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê. Giải thích cho sự chênh lệch này là do mẫu nghiên cứu nhỏ, phụ thuộc vào phân bố bệnh nhân nhập viện trong thời gian nhập viện ngắn.

2. Đặc điểm lâm sàng

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng của hội chứng ngưng thở khi ngủ được nghiên cứu trên đối tượng béo phì. Qua nghiên cứu của chúng tôi, kết quả nhận thấy triệu chứng ngáy to chiếm tỷ lệ cao nhất 78,1% (bảng 1) so sánh với nghiên cứu của O Resta và cộng sự năm 2001 trên 161 bệnh nhân béo phì  có trung bình khoảng 74,3 % (p<0,0001) trường hợp ngáy to [16]. Từ đó, chúng tôi nhận thấy hai tỷ lệ này không khác biệt nhau. Đồng thời, tỷ lệ ngáy to chung ở người trưởng thành là 38,4 % theo kết quả nghiên cứu của Kara Co và cộng sự của mình vào năm 2005 [12] thấp hơn nhiều so với tỷ lệ ngáy to ở những người béo phì. Giải thích cho sự tăng cao tỷ lệ ở bệnh nhân béo phì là do sự lắng đóng mỡ gây tăng kích thước mô mềm vùng hầu họng, nên luồng khí khi hít vào thở ra sẽ gây rung vùng mô mềm này và gây ra ngáy [11]. Vì vậy, có thể kết luận rằng béo phì là một yếu tố nguy cơ chính của ngáy [12].

Sự hiện diện của các triệu chứng khác (bảng 1) gồm không tập trung làm việc (46,9%), đau đầu buổi sáng (37,5%), buồn ngủ ban ngày (31,2%) cũng có tỷ lệ đáng chú ý ở bệnh nhân béo phì.

2.2. Các yếu tố nguy cơ

Tăng lipid máu chiếm tỷ lệ cao nhất, đứng thứ hai là bệnh lý tăng huyết áp. Vấn đề rối loạn lipid máu, khá dễ hiểu ở bệnh nhân béo phì, bao gồm tăng triglycerid, cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, giảm HDL - cholesterol. Đứng thứ hai, chính là tăng huyết áp (56,3%). Có nhiều bằng chứng ghi nhận có mối liên quan giữa béo phì và tăng huyết áp, 65% cho nữ giới và 78% cho nam giới béo phì mắc tăng huyết áp [21]. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của các bệnh lý mạch vành, đái tháo đường, tai biến mạch máu não, suy tim. Đây là những bệnh lý có liên quan với tình trạng béo phì [18]. Hơn thế nữa, đây cũng chính là yếu tố nguy cơ của hội chứng ngưng thở khi ngủ [15].

3. Đặc điểm các thông số trên máy đa kí hô hấp

3.1. Chỉ số AHI theo phân loại

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ AHI ≥ 5 lần/giờ chiếm 96,8% [theo bảng 6M]. So sánh với con số 98% (n=51) đối tượng béo phì nặng có AHI ≥ 5 lần/giờ theo nghiên cứu của Matilde Valencia-Flores và cộng sự, năm 2000 [23], hoặc 96% và 71% với AHI ≥ 15 lần/giờ và ≥ 30 lần/giờ của John B. Dixon và cộng sự, năm 2003 [10] thì thấy có mức độ tương đương. Tuy nhiên, đối tượng của các nghiên cứu trên là những bệnh nhân béo phì nặng nên cũng không tương đồng với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi béo phì.

Xét một nghiên cứu tại châu Á của Li Ling Lim và cộng sự, năm 2008, tại Singapore với đối tượng nghiên cứu có BMI trung bình 27,6 kg/m2thì tỷ lệ AHI ≥ 5 lần/ giờ chiếm 71,8 % [13], thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi. Giải thíchcho sự chênh lệch này do nghiên cứu chúng tôi tiến hành trên cỡ mẫu nhỏ, có nhiều bệnh lý nguy cơ ở trên mẫu nên tỷ lệ số bệnh nhân có AHI ≥ 5 lần/giờ trong mẫu nghiên cứu cao hơn các nghiên cứu khác.

Béo phì chính là yếu tố nguy cơ của ngưng thở tắc nghẽn [24], [26]. Béo phì làm tăng cường khả năng đóng lại đột ngột của đường hô hấp trên gây ra hội chứng ngưng thở tắc nghẽn. Do đó, có 40% người béo phì bị ngưng thở dạng tắc nghẽn, kết quả của Young và cộng sự, năm 2002 [26]. Hay 46% người béo phì có ngưng thở tắc nghẽn mức độ trung bình theo nghiên cứu của A Rao và cộng sự tại Singapore năm 2009 [5]. So với tỷ lệ chung của hội chứng ngưng thở tắc nghẽn, khoảng 24% nam và 9% nữ [22] thì các tỷ lệ trên đều cao hơn nhiều. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy chỉ số OA (Ostructive Apnea) ≥ 5 lần/giờ có tỷ lệ 46,6% cũng góp phần vào khẳng định tăng tình trạng ngưng thở tắc nghẽn tại châu Á [5] bệnh nhân béo phì.

3.2. Chỉ số giảm bảo hòa oxy máu ODI (Oxyhemoglobin Desaturation Index)

ODI cũng có ý nghĩa trong chẩn đoán và phân loại mức độ nặng hội chứng ngưng thở khi ngủ. Nhận thấy có mối tương quan có ý nghĩa giữa chỉ số AHI và ODI trong chẩn đoán hội chứng ngưng thở khi ngủ. Tùy vào mức xác định điểm ngưỡng khác nhau (ODI ≥5 lần/giờ) và (ODI ≥10 lần/giờ) mà có kết quả khác nhau. Qua nghiên cứu đã chứng minh rằng chọn mức ODI ≥ 5 lần/giờ (dự đoán cho AHI ≥ 5 lần/giờ với độ chính xác là 83%)  để chẩn đoán hội chứng ngưng thở khi ngủ, cũng như mức ODI có giá trị dự đoán mức độ vừa và nặng cho hội chứng ngưng thở khi ngủ [8]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ODI ≥ 5 lần/giờ chiếm khoảng 78,1%. Cũng thể hiện sự tăng cao t lệ hội chứng ngưng thở khi ngủ trên đối tượng nghiên cứu béo phì.

4. Mối tương quan giữa chỉ số ngưng-giảm thở (AHI) và chỉ số khối cơ thể (BMI), vòng bụng

4.1. Mối tương quan giữa AHI và BMI

Trong lĩnh vực nghiên cứu ngưng thở khi ngủ, mối tương quan giữa béo phì và ngưng thở khi ngủ rất được quan tâm và được chứng minh là có mối liên quan mạnh mẽ [17], [21]. Trong đó, các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu mối tương quan giữa BMI và AHI. Người ta nhận thấy có sự cải thiện AHI khi giảm chỉ số BMI [5],[17], hay BMI có liên quan mật thiết với AHI [23].

A Rao (2003) [5]: r = 0,28, p<0,01, Li Ling Lim (2008) [13]: r = 0,362, p<0,05, Hoàng Anh Tiến (2011) [2]: r = 0,41, p<0,05.

Các nghiên cứu trên đều đưa ra kết quả có sự tương quan giữa BMI và AHI. Tương tự như kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận định rằng: có mối tương quan giữa AHI và BMI với r= 0,392 với p<0,05. Tuy nhiên, mức độ tương quan giữa AHI và BMI thấp, giống với nghiên cứu ở châu Á như A Rao (2003) r = 0,41 với p< 0,05, Li Ling Lim (2008) r=0,362, p< 0,05, nghiên cứu của Hoàng Anh Tiến (2011), r= 0,41 với p<0,05. Điều này được giải thích là do mức BMI xác định béo phì trong nghiên cứu trên, cũng như nghiên cứu của chúng tôi khác với tiêu chuẩn béo phì của thế giới. Ngoài ra,sự góp phần của các bất thường cấu trúc sọ mặt ở người châu Á [26] như dài xương hàm trên, ngắn xương hàm dưới, hẹp góc sọmặt, dày vòm miệng…[13] cũng làm cho mức độ tương quan giữa BMI và AHI thấp.

4.2.Mối tương quan giữa AHI và vòng bụng

Davidson và Patel (2008) kết luận rằng chu vi vòng bụng đánh giá tốt tình trạng ngưng thở khi ngủ hơn BMI [7], nó được coi là một trong những chỉ số để đánh giá AHI [16]. Các nghiên cứu khẳng định mối tương quan của vòng bụng và AHI như: r=0,32 với p<0,05 (nam) và r=0,44 với p< 0,001 (nữ) [16], r= 0,366 với p= 0,00 (nam); r= 0,445 với p= 0,00 (nữ) (Davison TM và Patel MR-2008) [7].

Trong nghiên cứu này, mối tương quan giữa AHI và vòng bụng được xác định với hệ số tương quan r=0,507 với p=0,01.Từ đó khẳng định có sự tương quan giữa tình trạng béo bụng với hội chứng ngưng thở khi ngủ [22]. Đồng thời, nhận thấy hệ số tương quan vòng bụng với AHI cao hơn so BMI với AHI, điều này chứng minh mối tương quan giữa AHI và vòng bụng mạnh hơn AHI và BMI (p<0,05) (biểu đồ 1 và biểu đồ 2). Như vậy, vòng bụng là yếu tố tiên lượngcó giá trị hơn BMI.

Do tăng kích thước vòng bụng là một chỉ điểm của béo bụng, đó là tình trạng phân bố mỡ tập trung ở phần trung tâm của cơ thể, hơn phần ngoại biên. Chính tình trạng béo trung tâm có liên quan với hội chứng ngưng thở khi ngủ [9]. Do có sự phân bố mỡ ở vùng trung tâm như vùng cổ gây ra sự bất thường về mặt giải phẫu vùng hầu họng, làm đường thở dễ đóng sập lại. Đồng thời, tỷ lệ đề kháng insulin và leptin cao ở những cá nhân bị béo bụng                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  [9], điều này giải thích thêm được mối liên quan giữa béo bụng và hội chứng ngưng thở khi ngủ thông qua cơ chế hormone.

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 32 bệnh nhân béo phì, tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế từ tháng 5/2012 đến tháng 4/2013, rút ra kết luận sau:

1.    Các đặc điểm lâm sàng, các yếu tố cận lâm sàng trên máy đa kí hô hấp trên bệnh nhân béo phì

Tuổi trên 50 tuổi chiếm 71%, độ tuổi trung bình 55,28 ± 11,93; ngáy chiếm 78,1%; đau đầu buổi sáng chiếm 37,5%; buồn ngủ ban ngày chiếm 31,2%, không tập trung làm việc 46,9%; tỷ lệ thang điểm Epworth ≥ 10 điểm chiếm 16%; rối loạn lipid máu chiếm 78,1 %; tăng huyết áp chiếm 56,1%; bệnh mạch vành 37%; hút thuốc lá 25%; đái tháo đường 9,3 %; suy tim 6,3 %; tai biến 3,1%.

1.1. Đặc điểm cận lâm sàng trên máy đa kí hô hấp

Tỷ lệ chỉ số ngưng, giảm thở ≥ 5 lần/giờ chiếm 96,9 %; tỷ lệ chỉ số ngưng thở tắc nghẽn ≥ 5 lần/giờ chiếm 46,6 %; chỉ số ngáy mức độ nặng (>400 lần/giờ) chiếm 6,3%; chỉ số giảm độ bão hòa oxy máu >5 % chiếm 78,1 %.

2. Mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở với chỉ số khối cơ thể, với vòng bụng, với tỷ lệ vòng bụng/vòng mông.

Có mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở và chỉ số khối cơ thể (r= 0,392 với p< 0,05); có mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở và vòng bụng (r=0,507 với p= 0,01); không có mối tương quan giữa chỉ số ngưng, giảm thở và chỉ số vòng bụng/vòng mông ( r= 0,11 với p> 0,05).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ môn Nội trường Đại Học Y Dược Huế (2007),  Béo phì, in Bài giảng bệnh học nội khoa tập 2, Nhà xuất bản Y Học.

2. Hoàng Anh Tiến (2011), Nghiên cứu hội chứng ngưng thở khi ngủ tại Bệnh viện trường Đại Học Y Dược Huế, Luận văn tiến sĩ khoa học Y-Dược, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế.

3. Lê Thượng Vũ, Đặng Vũ Thông, Nguyễn Thị Ngọc Bích và cs. (2011), Hội chứng ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn  tại Việt Nam, J Fran Viet Pneu, 2(2), tr. 1-86.

4. Nguyễn Thị Bích Xuyên (2011), Hội chứng ngưng thở lúc ngủ tại Châu Á, J Fran Viet Pneu, 2(5), tr. 1-94.

5. A Rao, Beng Hea Tey, Ganesh Ramalingam, Aaron GH Poh, (2009), Obstructive Sleep Apnoea (OSA) Patterns in bariatric surgical practice and response of OSA to weight loss after Laparoscopic Adjustable Gastric Banding (LAGB), Ann Acad Med Singapore, 38, tr. 587-593.

6. Charles F. P. George (2007), Sleep apnea, alertness, and motor vehicle crashes, Am. J. Respir. Crit. Care Med, 176(10), tr. 954-956.

7. Davidson TM, Patel MR, (2008), Waist circumference and sleep disordered breathing, Laryngoscope, 118(2), tr. 339- 347.

8. Frances Chung, Pu Liao, Hisham Elsaid, Sazzadul Islam, Colin M Shapiro, and Yuming Sun, (2012), Oxygen desaturation index from nocturnal oximetry: a sensitive and specific tool to detect sleep disordered breathing in surgical patients, Anesth Analg, 114, tr. 993–1000.

9. Giora Pillar, Naim Shedadeh, (2008), Abdominal fat and sleep apnea, the chicken or the egg?, Diabetes Care, 31(2), tr. 303–309.

10. John B. Dixon, Linda M. Schachter, and Paul E. O’Brien, (2003), Predicting sleep apnea and excessive day sleepiness in the severely obese, indicators for polysomnography, Chest, 123, tr. 1134–1141.

11. K.G. van Houwelingen, R. van Uffelen and A.C.M. van Vliet, (1999), The sleep apnoea syndromes, European Heart Journal, 20, tr. 858–866.

12. Kara CO, Zencir M, Topuz B, Ardiç N, Kocagözoğlu, (2005), The prevalence of snoring in adult population, Kular Burun Bogaz Ihtis Derg, 14(1), tr. 18-24.

13. Li Ling Lim, Kwang Wei Tham, Stephanie MC Fook-Chong, (2008), Obstructive sleep apnoea in Singapore: Polysomnography data from a tertiary sleep disorders unit, Ann Acad Med Singapore, 37, tr. 629-63.

14. Mervyn Deitel (2003), Overweight and obesity worldwide now estimated to involve 1.7 billion people, Obesity Surgery, 13, tr. 329-330.

15. Naresh M. Punjabi (2008), The Epidemiology of Adult Obstructive Sleep Apnea, Proceedings of the american thoracic society, 5, tr. 137-142.

16. O Resta, MP Foschino-Barbaro, G Legari, S Talamo P Bontto, A Palumbo1, A Minenna R, Giorginoand G De Pergola, (2001), Sleep-related breathing disorders, loud snoring and excessive daytime sleepiness in obese subjects, International Journal of Obesity, 25, tr. 669-675.

17.     Peppard PE, Young T, Palta M, Dempsey J, Skatrud J, (2000), Longitudinal study of moderate weight change and sleep-disordered breathing, JAMA, 284(23), tr. 3015-3021.

18. Peter G. Kopelman (2003), Obesity as a medical problem, Nature, 404, tr. 635-643.

19. Remmers JE, DeGroot WJ, Sauerland EK, Anch AM, (1978), Pathogenesis of upper airway occlusion during sleep, J Appl Physiol, 44, tr. 931-938.

20. Richard B. Berry (2012), Obstructive Sleep Apnea Syndromes: Definitions, Epidemiology, Diagnosis and Variants, Fundamentals of Sleep Medicine, Elsevier.

21. Robert Wolk, Abu S. M. Shamsuzzaman,Virend K. Somers, (2003), Obesity, sleep apnea and hypertension, Hypertension, 42, tr. 1067-1074.

22. Terry Young, Paul E. Peppard and Shahrad Taheri, (2005), Excess weight and sleep-disordered breathing, Journal of Applied Physiology, 99, tr. 1592-1599.

23. Valenciaflores, Matilde, Arturo Orea, Violeta A. Castan O, Montserrat Resendiz, Mari’ A Rosales, Vero’ Nica Rebollar, Victoria Satiago, Jose’ Gallegos, Rosa M. Campos, Jorge Gonza’ lez, Jorge Oserguera, Guillermo Garci’ ARamos, and Donald L, (2000), Prevalence of sleep apnea and electrocardiographic disturbances in morbidly obese patients, Obes. Res, 8, tr. 262–269.

24. Vishesh K, Kapur MD MPH, (2010), Obstructive Sleep Apnea: Diagnosis, Epidemiology and Economics, Respiratory Care, 55(9), tr. 1155-1167.

25. Young T, Palta M, Dempsey J, Skatrud J, Weber S,  Bard S , (1993), The occurrence of sleep- disordered breathing among middle- age adult, N Engl J Met 328, tr. 1230-1235.

26. Young T, Peppard PE, Gottlieb DJ , (2002), Epidemiology of obstructive sleep apnea: a population health perspective, Am J Respir Crit Care Med, 165, tr. 1217–1239. 

Hoàng Anh Tiến, Nguyễn Nhật Quang

Trường Đại học Y Dược Huế

Bài viết được trích trong Tạp chí Nội khoa số 14

 

 

 béo phì, hội chứng ngưng thở khi ngủ, bệnh nhân, hô hấp,

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác