Nghiên cứu lệch thể thủy tinh trong chấn thương đụng dập nhãn cầu bằng siêu âm UBM
(08:47 | 08/02/2014)
  - 

Đỗ Như Hơn*

Hồ Doãn Hồng**

*Bệnh viện Mắt Trung ương

**Khoa Mắt, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái 

TÓM TẮT

Mục tiêu: nhận xét đặc điểm lâm sàng lệch thể thủy tinh (TTT) và sử dụng siêu âm UBM đánh giá lệch TTT sau chấn thương đụng dập nhãn cầu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 45 mắt lệch TTT sau chấn thương đụng dập nhãn cầu tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ 2/2012 đến 7/2012.

Kết quả: 77,8% gặp ở lứa tuổi lao động. 76,6% nam, 23,4% nữ. Thị lực đến viện ≤ 20/200 là 71,11%. 97,8% trường hợp do tác nhân trực tiếp. BN đến viện trước 2 ngày chiếm 15,4%. 28,9% mắt có tăng nhãn áp. Hay gặp lệch TTT ra sau 31,11%. Siêu âm UBM tìm vị trí dây Zinn đứt, độ sâu tiền phòng trung tâm 2,91±0,87mm, độ dày TTT trung bình 4,55±0,61mm, trên siêu âm UBM lệch TTT ra sau là nhiều nhất 46,67%, bong thể mi kèm theo 31,1%.

Kết luận: siêu âm UBM có giá trị trong chẩn đoán lệch TTT, có thể phát các tổn thương của bán phần trước nhãn cầu sau chấn thương đụng dập.

Từ khóa: lệch TTT, siêu âm UBM.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Lệch  thể thủy tinh (TTT) là khá thường gặp sau chấn thương đụng dập. Theo các nghiên cứu, lệch TTT sau chấn thương đụng dập chiếm 1% số bệnh nhân vào viện. Đây là vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà Nhãn khoa trong và ngoài nước. Các nghiên cứu này đã đưa ra được cơ chế đụng dập nhãn cầu, các hình thái lâm sàng, phương pháp điều trị. Hiện nay, siêu âm được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực chẩn đoán các bệnh lý toàn thân đặc biệt là trong nhãn khoa. Sử dụng siêu âm UBM sẽ đánh giá được các tổn thương của bán phần trước nhãn cầu trong chấn thương đụng dập đặc biệt là khi có xuất huyết tiền phòng. Nhằm góp phần cho việc chẩn đoán lệch TTT trong chấn thương đụng dập nhãn cầu nhanh chóng và chính xác hơn giúp cho việc điều trị được thuận lợi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “nghiên cứu tình trạng lệch thể thủy tinh trong chấn thương đụng dập nhãn cầu bằng máy siêu âm UBM” nhằm mục tiêu: nhận xét đặc điểm lâm sàng lệch thể thủy tinh và sử dụng siêu âm UBM đánh giá lệch thể thủy tinh sau chấn thương đụng dập nhãn cầu.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên những bệnh nhân lệch TTT sau chấn thương đụng dập nhãn cầu từ tháng 2/2012 đến tháng 7/2012 tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Những bệnh nhân có xuất huyết tiền phòng sẽ được làm siêu âm UBM và nếu có lệch TTT sẽ được đưa vào nhóm nghiên cứu. Loại trừ những bệnh nhân có tổn thương nặng phối hợp với bệnh vùng hàm mặt, người già yếu, trẻ em không hợp tác, bệnh nhân mắc bệnh toàn thân như: đái tháo đường, tăng huyết áp, lệch TTT do bệnh lý khác như hội chứng Marfan…

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có 45 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân được khám các tổn thương trên lâm sàng sau đó tiến hành siêu âm UBM để đánh giá lệch TTT và các tổn thương phối hợp.

Tiêu chuẩn đánh giá: đánh giá về thị lực, nhãn áp, độ sâu tiền phòng trung tâm, đặc điểm lệch TTT trên lâm sàng và trên siêu âm UBM.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình 40,07±17,006. Lứa tuổi hay gặp nằm trong nhóm 20-60 tuổi có 35 mắt (chiếm 77,8%). Tỉ lệ nam chiếm 76,60%, nữ chiếm 23,4%. Đa số bệnh nhân đến viện trong tình trạng thị lực kém, thị lực từ ST (+) đến 20/200 có 32 mắt (71,11%), 3 mắt có thị lực từ 20/30 trở lên (6,67%), 10 mắt có thị lực vào viện từ 20/200 đến 20/30. Tỉ lệ lệch TTT ở MP là 48,9%, MT là 51,1%. Số bệnh nhân đến viện trước 2 ngày là 8 bệnh nhân (15,4%), đến viện từ 2 ngày đến 1 tuần là 13 bệnh nhân (30,8%), từ 1 tuần đến 1 tháng là 10 bệnh nhân (20,5%), trên 1 tháng là 14 bệnh nhân (33,3%).

2. Hình thái lệch TTT trên lâm sàng

Lệch TTT mức độ ít có 22 bệnh nhân (48,9%), lệch TTT mức độ nhiều có 23 bệnh nhân (51,1%). Tỉ lệ giữa 2 nhóm là gần như nhau. Không có bệnh nhân nào có xuất huyết tiền phòng che lấp tổn thương.

Bảng 1. Hướng lệch TTT theo lâm sàng

Hướng lệch

Ra trước

Ra sau

Vào trong

Ra ngoài

Lên trên

Xuống dưới

Tổng số

Số mắt

10

14

5

5

4

7

45

Tỉ lệ %

22,22

31,11

11,11

11,11

8,89

15,56

100

 Hướng lệch TTT có thể xảy ra ở các hướng khác nhau, hay gặp nhất là TTT lệch ra phía sau có 14 mắt (31,11%), ít gặp hơn là TTT lệch lên trên, hướng lệch này có 4 mắt (8,89%), còn lại là các hướng khác như ra trước, vào trong, ra ngoài, xuống dưới chiếm tỉ lệ lần lượt là 22,22%, 11,12%, 11,12% và 15,56%.

3. Lệch TTT trên siêu âm UBM

Khi sử dụng siêu âm UBM đánh giá tình trạng đứt dây chằng Zinn bằng cách dùng đầu quét ở các góc phần tư, có sự phối hợp đưa mắt của bệnh nhân chúng tôi thấy: trên cùng một mắt dây chằng Zinn có thể đứt ở nhiều vị trí khác nhau, vị trí dây chằng Zinn đứt hay gặp nhất là phía trên có 27 mắt (32,53%) sau đó đến phía ngoài có  21 mắt (25,30%), còn lại là đứt ở phía trong và dưới chiếm tỉ lệ lần lượt là 19,28% và 22,89%.

Bảng 2. Hướng lệch TTT trên UBM

Hướng lệch

Ra trước

Ra sau

Vào trong

Ra ngoài

Lên trên

Xuống dưới

Tổng số

Số mắt

7

21

5

5

2

5

45

Tỉ lệ %

15,56

46,67

11,11

11,11

4,45

11,11

100

 

Hướng lệch TTT trên siêu âm UBM và trên lâm sàng có tỉ lệ là khác nhau, gặp nhiều nhất là hướng lệch ra sau chiếm 46,67%. Ít nhất là hướng lệch lên trên chiếm 4,45%.

Khi sử dụng siêu âm UBM để đo độ sâu tiền phòng trung tâm của những bệnh nhân lệch TTT chúng tôi thấy: tiền phòng nông có 16 mắt chiếm 35,6%, tiền phòng bình thường có 26 mắt chiếm 57,7% và tiền phòng sâu có 3 mắt chiếm 6,7%. Độ sâu tiền phòng không đều hầu hết gặp trên tất cả bệnh nhân, mức độ đồng đều của tiền phòng tùy thuộc vào độ lệch của TTT. Độ sâu TP trung bình của nhóm nghiên cứu là 2,91±0,87mm, độ dày TTT trung bình là 4,55±0,61mm.

Trong 45 mắt nghiên cứu, siêu âm UBM phát hiện được 14 mắt có bong thể mi (chiếm 31,1%), 31 mắt  không  có bong  thể  mi (chiếm 68,9%). Vị trí của bong thể mi được xác định ngay sau đó, trong 14 mắt có bong thể mi hay gặp nhất là vị trí ở phía trên có 8 mắt, bong phía ngoài có 2 mắt, bong phía dưới có 4 mắt, không có mắt nào bong ở phía trong

IV. BÀN LUẬN

1. Đặc điểm bệnh nhân

Tỉ lệ bệnh nhân là nam giới hay gặp nhất, chiếm 76,6% so với nữ là 23,4%. Tỉ lệ giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ ràng và có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Độ tuổi 21-60 gặp nhiều nhất chiếm 77,8%, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả khác như Lê Công Đức (2002) gặp 65,52%. Tuy một số nghiên cứu khác đã phân chia độ tuổi theo các mức độ khác nhau nhưng đều có kết luận độ tuổi hay gặp là độ tuổi lao động. Trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy: các chấn thương đều xảy ra ở một mắt, không có bệnh nhân nào bị chấn thương ở cả 2 mắt. Tỉ lệ bị lệch TTT giữa MP và MT là tương đương nhau: MP có 22 mắt chiếm 48,9%, MT có 23 mắt chiếm 51,1%. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.

Thị lực của bệnh nhân đến viện là rất khác nhau, chủ yếu là nhóm bệnh nhân có thị lực rất thấp, dưới 20/200 có 32 mắt (71,11%). Một số tác giả khác cũng đưa ra tỉ lệ khá cao cho nhóm bệnh nhân này. Theo Hoàng Việt Nga (1991) [3] thị lực dưới 20/200 là 86,67%, Lê Công Đức (2002) [2] có tỉ lệ thị lực dưới 20/200 là 89,66%. Có thể nhận định rằng đặc điểm của chấn thương đụng dập có lệch TTT là rất nặng nề, có thể kèm theo tổn thương phối hợp phức tạp.

Mức độ thị lực lúc vào viện rất thấp. Các chỉ số về mức thị lực trên có thể đưa ra để cảnh báo cộng đồng thấy rõ sự nguy hiểm của chấn thương đụng dập nhãn cầu. Chỉ có khoảng 15,4% số bệnh nhân đến viện sớm trước 2 ngày sau chấn thương, còn lại là đến viện sau 2 ngày chiếm tỉ lệ là 84,6%. Những bệnh nhân đến viện sớm thường đau nhức, nhìn mờ ngay, một số bệnh nhân khác tự điều trị ở nhà, điều trị ở tuyến dưới hoặc không nhìn mờ nhưng đến khi đau nhức do tăng nhãn áp… mới đến viện. Điều này có thể nói lên rằng bệnh nhân chưa có ý thức phòng và điều trị bệnh do chấn thương mắt gây ra.

Tỉ lệ lệch TTT ít và nhiều không có sự khác biệt. Hướng lệch TTT trên lâm sàng có tỉ lệ khác nhau. Nghiên cứu này gặp nhiều nhất là lệch TTT ra sau có tỉ lệ 31,11%, tỉ lệ này cũng phù hợp với nhận định của tác giả Hoàng Việt Nga (1999) và Lê Công Đức (2002). Do tác nhân chấn thương tác động trực tiếp lên nhãn cầu gây đứt dây chằng Zinn, đẩy lùi TTT ra phía sau.

2. Siêu âm UBM

Chúng tôi đã sử dụng siêu âm UBM đánh giá sự toàn vẹn của dây chằng Zinn, kết quả cho thấy vị trí đứt dây chằng Zinn trong lệch TTT có tỉ lệ rất khác nhau. Đứt ở phía trên chúng tôi gặp 32,53%, phía dưới gặp 22,89%, các vị trí còn lại gặp tỉ lệ ít hơn. Kết quả này phù hợp với nhận định của Dhar M (2008). Tác giả đã ghi nhận lợi ích to lớn của siêu âm UBM, tạo điều kiện thuân lợi cho quá trình điều trị sau này. Hình ảnh dây chằng Zinn được ghi lại rõ nét, điều này có thể có ích cho việc khám là khách quan, đặc biệt là công tác pháp y, giám định. Qua nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất: nên chăng những bệnh nhân đục TTT có chỉ  định phẫu thuật đều được đánh giá sự toàn vẹn của dây Zinn trước khi phẫu thuật.

2.1. Độ sâu của tiền phòng

Thay đổi độ sâu tiền phòng là triệu chứng hay gặp trong mắt bị chấn thương, dù sớm hay muộn, sự thay đổi này có thể do sự di chuyển của mống mắt, thay đổi vị trí của TTT hoặc kích thước của TTT. Theo nghiên cứu của Trần Bích Dung (2010), độ sâu tiền phòng trung bình ở mắt chấn thương là 2,82 ± 0,98 mm. Trong nghiên cứu này, độ sâu tiền phòng trung bình là 2,91 ± 0,87 mm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đánh giá độ sâu tiền phòng trên mắt chấn thương có lệch TTT, kết quả bước đầu được ghi nhận và làm tiền đề để đánh giá trên người bình thường. Mặt khác, tác giả Tanuj Dada (2007) cũng đã đưa ra những bằng chứng để chứng minh phương pháp OCT và siêu âm UBM không có sự khác biệt và có ý nghĩa thống kê [10]. Vì vậy, chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp đo độ sâu tiền phòng bằng siêu âm UBM trong quá trình khám, theo dõi điều trị bệnh nhân, có thể coi như một công cụ khám sàng lọc trên những mắt có nguy cơ glocom góc đóng.

2.2. Bong thể mi trên siêu âm UBM

Chúng tôi phát hiện 14 mắt có bong thể mi kèm theo chiếm tỉ lệ 31,1%. Tác giả Ozdal M.P.C. (2003) đã phát hiện được bong thể mi với tỉ lệ là 4,5% trong nhóm chấn thương ĐDNC [8]. Tỉ lệ phát hiện bong thể mi trong nghiên cứu này cao hơn của tác giả Ozdal M.P.C. là do chúng tôi chỉ nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân có lệch TTT do chấn thương đụng dập. Như vậy, có thể kết luận rằng, siêu âm UBM rất có giá trị trong chẩn đoán các tổn thương ở bán phần trước nhãn cầu do chấn thương đụng dập gây nên, đặc biệt là những tổn thương mà khám lâm sàng không phát hiện được như bong thể mi, đứt dây chằng Zinn kín đáo do môi trường trong suốt phù đục.

2.3. Lệch TTT trên siêu âm UBM

Trên siêu âm UBM lệch TTT được hiển thị rất rõ. Ở chế độ siêu âm tổng quát, chúng tôi tiến hành quét và ghi lại hình ảnh TTT lệch. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ các hướng lệch TTT giữa lâm sàng và siêu âm là có khác nhau. Đối với siêu âm UBM hay gặp là TTT lệch ra sau, chiếm tỉ lệ 46,67%. Lệch TTT ra phía sau trên siêu âm UBM là cao nhất, điều này được giải thích rằng do tư thế của bệnh nhân khi siêu âm UBM là tư thế nằm ngửa trên bàn, kèm theo trọng lượng của TTT và sự tổn thương của dây chằng Zinn nên TTT lệch ra phía sau. Các hướng lệch khác gặp ít hơn.

V. KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng lệch TTT

Lệch TTT sau chấn thương đụng dập là rất thường gặp, hay gặp ở lứa tuổi lao động, nam gặp nhiều hơn nữ. Tác nhân gây chấn thương thường do các vật đầu tù, tác động trực tiếp lên mắt. Tổn thương thường rất nặng nề, để lại hậu quả nghiêm trọng: thị lực khi đến khám là rất thấp có 32 mắt có thị lực dưới 20/200 chiếm 71,11%. Hình thái lệch TTT ít và nhiều có tỉ lệ như nhau (48,89% và 51,11%). Hướng lệch TTT hay gặp nhất là hướng ra sau (31,11%), ít gặp hướng lên trên (4,5%). Lệch TTT sau chấn thương đụng dập thường phối hợp với tổn thương khác như: phù giác mạc, đứt chân mống mắt, bong thể mi… Tăng nhãn áp cũng rất hay gặp sau chấn thương đụng dập có đục lệch TTT (28,9%).

2. Siêu âm UBM trong đánh giá lệch TTT

Siêu âm UBM ở tần số 35 MHz có thể quan sát được các tổn thương tính từ giác mạc cho đến bao sau của TTT. Đối với lệch TTT sau chấn thương đụng dập sẽ được hiển thị rõ nét trên siêu âm UBM ở chế độ siêu âm tổng quát. Ngoài ra, siêu âm UBM cũng đánh giá chính xác được hướng lệch TTT, hình dạng của TTT (căng phồng, tiêu TTT…). Sự toàn vẹn của dây chằng Zinn trong lệch TTT được siêu âm UBM đánh giá chính xác khi quét đầu dò ở các góc phần tư. Bong thể mi đã phát hiện 14/45 mắt.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ĐỖ NHƯ HƠN VÀ NGUYỄN QUỐC ANH (2000), “Tình hình chấn thương mắt”, Nội san nhãn khoa, (6), tr. 45-49.

2. LÊ CÔNG ĐC (2002),  Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và điều trị sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập nhãn cầu, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

3. HOÀNG VIT NGA (1999), Nghiên cứu về tăng nhãn áp sau sa, lệch TTT do chấn thương đụng dập và các phương pháp điều trị, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

4. CEYLAN O.M ET AL (2011), “Ultrasound biomicroscopic findings of blunt eye traumas”, Ophthalmology, 53, pp 31-33.

5. DHAR M. ET AL (2008), “Is ultrasound biomicroscopy useful for Zonular Intergrity”, Kerale Journal of Ophthalmology, 20-2, pp 145-147.

6. MCWHAE J.A ET AL (2003), “Ultrasound biomicroscopy for the assessment of Zonuler after ocular trauma”, Ophthalmology, 110-7, pp 1340-1343.

7. PAVLIN C.J., HARASIEWICZ K, SHERAR MD, FOSTER FS (1991), “Clinical use of ultrasound biomicroscopy”, Ophthalmology, 98, pp 287–295.

8. OZDAL M.P.C. ET AL (2003), “Ultrasound biomicroscopic evaluation of the traumatized eyes”, Eye, 17, pp 467-472.

9. PAVLIN C.J, YVONNE M. (1998), “Imaging Zonular abnormalities using Ultrasound Biomicroscopy”, Arch Ophthalmol, 116, pp 854-857.

10. TANUJ DADA ET AL (2007), “Comparison of anterior segment optical coherence tomography and ultrasound biomicroscopy for assessment of the anterior segment”, J Cataract Refract Surg, 22-7, pp 837 – 840.

 

SUMMARY

THE CLINICAL CHARACTERISTICS AND THE EFFECT OF USING UBM (ULTRASOUND BIOMICROSCOPY) OF LENS DISLOCATION SECONDARY BY OCULAR CONTUSION INJURIES

Purpose: Comments on the clinical characteristics and the effect of using UBM of lens dislocation secondary by ocular contusion injuries.

Objectives and methods: Descritive cross-sectional study on 45 eyes having dislocated lens by contusion injuries in Traumatic department, National Institute of Ophthalmology from 2/2012 to 7/2012.

Result: 77.8% of working age. 76.6% male, 23.4 female. To the hospital vision ≤ 20/200 is 71.11%. 97.8% agent directly. To the hospital before two days in 15.4%. 28.9% of glaucoma. Common of lens dislocation to posterior 31.11 percent. UBM  locate Zinn off, the central anterior chamber depth 2.91 ± 0.87 mm, thickness lens average 4.55 ± 0.61 mm and UBM detect lens dislocation to posterior at most 46.67%, ciliary detach with 31.1%.

Conclusion: UBM is effective diagnosis for lens dislocation. UBM detect lesions of anterior segment by ocular contusion ịnuries.

Keyword: lens dislocation, UBM.

 

(Tạp chí Nhãn khoa số 31)

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác