Nghiên cứu một yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh vảy nến điều trị BVTWQĐ 108 từ 2010-2012
(11:49 | 28/05/2015)
  - Bệnh vảy nến là một bệnh da thường gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, khắp mọi lục địa và bệnh chiếm 1-3% dân số thế giới. Đến nay, chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh vảy nến.

Viêm khớp vẩy nến

Sống chung với bệnh vảy nến

Các phương pháp điều trị vảy nến hiện nay

 TÓM TẮT

Nghiên cứu 184 bệnh nhân vảy nến cho thấy: tuổi đời từ 40-49 chiếm 33,7%, từ 20-59 là 76,63%; tuổi bệnh từ 5-10 năm là 37,5%; nam 86,95%; bộ đội 42,93%; stress gặp 42,39%, thức ăn (thịt chó, cá, gà, rượu) 31,52%, vảy nến xuất hiện từ tháng 10-12 là 47,28%; tiền sử gia đình 17,93%; rối loạn chuyển hóa lipid 41,36%, tăng huyết áp 15,22%, đái tháo đường 7,6%; tổn thương khởi phát vùng đầu 84,24%, thể thông thường 85,87% và mức độ vừa chiếm 50,54%, nặng 37,5% và nhẹ 11,96%.

Từ khóa: vảy nến, dịch tễ, lâm sàng.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh vảy nến là một bệnh da thường gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, khắp mọi lục địa và bệnh chiếm 1-3% dân số thế giới [1], [6], [7]. Sinh bệnh học bệnh vảy nến còn có những vấn đề chưa rõ, kết quả của các công trình nghiên cứu cho thấy bệnh vảy nến là một bệnh có cơ địa di truyền và có cơ chế tự miễn được khởi động bởi các yếu tố stress, chấn thương da, nhiễm khuẩn khu trú, một số thuốc, thức ăn, thời tiết khí hậu…[7].

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa   

Đến nay, chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh vảy nến. Mục tiêu điều trị bệnh vảy nến chủ yếu là nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, trong đó khống chế các yếu tố khởi động là rất quan trọng. Do vậy, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài trên với 2 mục tiêu sau:

1. Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh vảy nến điều trị tại Khoa Da liễu-Dị ứng, BVTƯQĐ108 từ 2010-2012.

2. Khảo sát một đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến.

II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

184 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là bệnh vảy nến thông thường điều trị nội tại Khoa Da liễu-Dị ứng, BVTƯQĐ 108.

2. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang. 

- Cỡ mẫu nghiên cứu: mẫu thuận tiện (tất cả bệnh nhân vảy nến thông thường điều trị nội trú tại khoa Da liễu-Dị ứng từ 2010-2012).

- Các bước tiến hành:

+ Lập phiếu nghiên cứu

+ Khám lâm sàng:

    ▪ Chẩn đoán bệnh.

    ▪ Tuyển chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.

    ▪ Phỏng vấn thu thập các chỉ số cần thiết: tuổi, giới, tuổi bệnh, thể lâm sàng, mức độ bệnh theo PASI (Psoriasis area and severity index) tất cả bệnh nhân được đưa vào diện nghiên cứu lâm sàng và yếu tố liên quan.

- Các chỉ tiêu đánh giá:

+ Một số yếu tố liên quan: tuổi, giới...

+ Đặc điểm lâm sàng: thể bệnh, mức độ bệnh...

- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học.

III. KẾT QUẢ

1. Một số yếu tố liên quan

Bảng 1. Phân bố theo nhóm tuổi của bệnh vảy nến (n=184)

Nhóm tuổi

n

%

20-29

15

8,15

30-39

24

13,04

40-49

62

33,70

50-59

40

21,74

60-69

25

13,59

≥70

18

9,78

Tổng

184

100,0

± SD

46,65±15,67

Nhận xét: Tuổi từ 40-49 chiếm cao nhất 333,7%, tuổi < 30 là 8,15% và ≥70 thấp nhất 9,78%.

Bảng 2. Phân bố về tuổi bệnh của bệnh nhân vảy nến (n=184)

Tuổi bệnh (năm)

n

%

< 5

60

32,61

5-10

69

37,50

> 10

55

29,89

Tổng

184

100,0

± SD

9 ± 6,46

Nhận xét: Tuổi bệnh từ 5 đến 10 năm chiếm nhiều nhất 37,5%.

Bảng 3. Phân bố tuổi theo giới của bệnh vảy nến (n=184)

Giới tính

n

%

Nam

160

86,95

Nữ

24

13,05

Tổng

184

100

Nhận xét: kết quả tại bảng 3 cho thấy nam là chủ yếu chiếm 86,67%.

Bảng 4. Phân bố bệnh vảy nến theo nghề nghiệp (n=184)

Nghề nghiệp

n

%

Bộ đội

79

42,93

Công chức

77

41,85

Nông dân

17

9,24

Học sinh, sinh viên

11

5,98

Tổng

184

100,0

Nhận xét: Bộ đội chiếm nhiều nhất 42,93%, ít nhất là học sinh sinh viên 5,98%.       

Bảng 5. Tiền sử gia đình bệnh vảy nến (n=195)

Tiền sử bị vảy nến

n

%

- Cha

11

5,98

- Mẹ

7

3,80

- Anh, chị, em ruột

11

5,98

- Ông hoặc bà

4

2,17

Tổng

33

17,93

Nhận xét: Tiền sử gia đình gặp 17,93%, trong đó gặp nhiều nhất là bố chiếm 5,98%.

Bảng 6. Liên quan đến tháng trong năm (n=195)

Tháng

n

%

1-3

40

21,74

4-6

33

17,94

7-9

18

9,78

10-12

87

47,28

Không rõ

6

3,26

Tổng

184

100

Nhận xét: Từ tháng 10-12 có tỷ lệ bệnh cao nhất 47,28%, tiếp đến là từ tháng 1-3 chiếm 21,74%, tháng 4-6 (mùa hè) chiếm 17,94%, tháng 7-9 chiếm tỷ lệ thấp nhất 9,78%.

Bảng 7. Bệnh kết hợp gặp trong bệnh vảy nến (n=195)

Các bệnh

Lượt bệnh nhân

%

Rối loạn chuyển hóa lipid

76

41,31

Tăng huyết áp

28

15,22

Đái tháo đường

14

7,60

Loét dạ dày, tá tràng

7

3,80

Bệnh tai-mũi-họng

6

3,26

Bệnh tim

7

3,80

Viêm túi mật

5

2,71

Viêm gan B

4

2,17

Hen phế quản

2

1,09

Nhận xét: Rối loạn chuyển hóa lipid chiếm tỷ lệ cao 41,31%, tiếp đến tăng huyết áp 15,22%, đái tháo đường 7,6%.

Bảng 8. Yếu tố khởi động ở bệnh vảy nến (n=184)

Yếu tố khởi động

Lượt BN

%

Stress

78

42,39

Chấn thương da (vết xước, chấn thương)

17

9,24

Nhiễm khuẩn (xoang, mũi, họng)

12

6,52

Thuốc (kháng sinh, giảm đau)

17

9,24

Thức ăn (thịt chó, cá, gà) bia, rượu

58

31,52

Nhận xét: stress chiếm cao nhất 42,39%, tiếp theo là do thức ăn, uống 31,52%.

2. Một số đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến

     - Vị trí tổn thương khởi phát:

Bảng 9. Vị trí tổn thương lúc khởi phát bệnh (n=184)

Vị trí tổn thương khởi phát bệnh

n

%

Đầu

155

84,24

Chi trên

14

7,60

Lưng

4

2,17

Ngực

3

1,64

Chi dưới

8

4,35

Tổng

184

100,0

Nhận xét: Tổn thương khởi phát gặp chủ yếu vùng đầu chiếm 84,24%.

    - Các thể lâm sàng:

Bảng 10. Các thể vảy nến (n=184)

Thể lâm sàng

n

%

Vảy nến thông thường

158

85,87

Vảy nến mụn mủ

8

4,35

Vảy nến đỏ da róc vảy toàn thân

10

5,43

Vảy nến khớp

8

4,35

Tổng

184

100

Nhận xét: vảy nến thông thường chiếm nhiều nhất 85,87%, ít nhất là vảy nến khớp và mụn mủ đều 4,35%.

- Phân bố mức độ bệnh:

Bảng 11. Mức độ bệnh theo PASI (n=184)

Mức độ bệnh

n

%

Nhẹ

22

11,96

Vừa

93

50,54

Nặng

69

37,50

Tổng

184

100,0

 Nhận xét: Mức độ vừa chiểm tỷ lệ cao nhất 50,54%, tiếp đến mức độ nặng 37,5%.

IV. BÀN LUẬN

1. Một số yếu tố liên quan

- Tuổi đời: kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại bảng 1 cho thấy tuổi trung bình của nhóm 40-49 tuổi tỷ lệ cao nhất chiếm 33,7% và nhóm từ 20-59 chiếm 76,63%. Như vậy, bệnh vảy nến tập trung cao trong độ tuổi lao động. Kết quả chúng tôi phù hợp với Nguyễn Thị Kim Oanh-2007[4], tuổi từ 30-39 chiếm 26,4% và tuổi từ 20-59 chiếm 82,6%; Nguyễn Thị Minh-2008, tuổi từ 40-49 chiếm 20,5% và tuổi từ 20 đến 59 chiếm 70,5%[3]. 

- Tuổi bệnh: kết quả tại bảng 2 của chúng tôi cho thấy từ 5-10 năm 37,5% và trên 10 năm là 29,89%. Nguyễn Thị Minh-2008 [3], tuổi dưới 5 năm 49,7%, 5 đến 10 năm 25,6% và trên 10 năm chiếm 24,7%. Kết quả chúng tôi 5-10 năm và trên 10 năm đều cao hơn Nguyễn Thị Minh [3], với p<0,05.

- Giới: Tại bảng 3, chúng tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân nam giới bị bệnh vảy nến chiếm 86,95% cao hơn tỷ lệ bệnh nhân nữ giới bị bệnh vảy nến 13,05%. Theo Trần Văn Tiến-2004 nam bị vảy nến chiếm 70,9%[5], Nguyễn Thị Kim Oanh-2007, nam chiếm 73%, nữ 27%[4] thì kết quả của chúng tôi đều cao hơn có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

- Nghề nghiệp của bệnh nhân vảy nến: kết quả của chúng tôi tại bảng 4 cho thấy phân bố theo nghề nghiệp của bệnh nhân vảy nến cho thấy bộ đội chiếm tỷ lệ cao nhất 42,93%, công chức 41,85%, nông dân 9,24% và học sinh-sinh viên 5,98%. Theo Trần Văn Tiến-2004, nghiên cứu tại Viện Da liễu Trung ương cho thấy tỷ lệ cán bộ chiếm 22,85% [5], kết quả chúng tôi cao hơn do nguồn bệnh nhân chủ yếu đã là cán bộ công chức. Theo Nguyễn Thị Minh-2008 [3], tỷ lệ cán bộ, công chức chiếm 48,7% cao hơn kết quả chúng tôi là 42,85%. Kết quả của chúng tôi được nghiên cứu tại Khoa Da liễu-Dị ứng, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 là bệnh viện tuyến cuối toàn quân nên thu dung chủ yếu là cán bộ quân đội và có thu dung các nhóm đối tượng khác như bảo hiểm, dịch vụ. Do vậy, số lượng quân sẽ tăng hơn so với các nghiên cứu khác.

 - Tiền sử gia đình: tại bảng 5 của chúng tôi cho thấy tỷ lệ gặp tiền sử gia đình chiếm 17,93%, trong đó bố bị vảy nến chiếm 5,98%, anh, chị em ruột 5,98% và ông bà 2,17%. So sánh với kết quả của các tác giả trong và ngoài nước Herer-1989: 30% [trích dẫn theo 2], thì kết quả của chúng tôi thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân kết quả chúng tôi thấp có lẽ do bệnh nhân của chúng tôi chủ yếu là bộ đội đã được tuyển chọn đầu vào nên đã bị loại đi một số bệnh bị khởi phát sớm.

- Khí hậu thời tiết liên quan đến bệnh vảy nến: kết quả của chúng tôi tại bảng 6 cho thấy gặp bệnh vảy nến tái vượng bệnh nhiều nhất từ tháng 10-12 chiếm 47,28%, tiếp đến là tháng từ 1-3 chiếm 21,74%. Như vậy, bệnh tăng vào mùa rét chiếm 69,02%. Nguyễn Thị Kim Oanh-2007, bệnh vảy nến tăng về mùa đông chiếm 32%, mùa hè 15,7% và không rõ là 52,3% [4]; Lotti và cộng sự-1995 nêu phơi nắng và dùng nước nóng là có lợi đối với bệnh vảy nến, trong khi dùng nước lạnh dường như làm bệnh phát triển và bệnh thường tái phát vào mùa lạnh, mùa ẩm ướt. Như vậy, qua nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cũng như kết quả của chúng tôi cho thấy bệnh vảy nến thường tăng về mùa rét (10-12 và 1-3 hàng năm).

- Bệnh kết hợp trong bệnh vảy nến: bệnh vảy nến có một bệnh kết hợp như đái tháo đường, bạch biến, bệnh đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày tá tràng, bệnh gan, bệnh thận và đặc biệt  là rối loạn chuyển hóa lipid, bệnh tim mạch…cần được nghiên cứu đầy đủ để đánh giá sự liên quan với bệnh vảy nến ở mức độ nào. Sự liên quan đó có nằm trong sinh bệnh học bệnh vảy nến không và ngược lại. Kết quả của chúng tôi cho thấy rối loạn chuyển hóa lipid chiếm tỷ lệ cao nhất 41,36%, tăng huyết áp 15,22%, đái tháo đường 7,6%, ... Theo Nguyễn Thị Kim Oanh-2007, gặp bệnh đường hô hấp 15,7%, bệnh đường tiêu hóa 9%, suy nhược thần kinh 6,2% và nội tiết 5,1% [4].

- Các yếu tố khởi động bệnh vảy nến:

+ Yếu tố chấn thương tâm lý: Kết quả gặp các stress trong bệnh vảy nến của chúng tôi tại bảng 8 là 42,397%. Theo Bolgert và Sonle’ yếu tố thần kinh gây bệnh là 48% trường hợp, Huriez là 35-70% [trích dẫn theo 6]; theo Lotti và cộng sự-1995 là 46% [trích dẫn theo 7]; theo Pincelli và cộng sự-1995 là 39%[10]; theo Faber và cộng sự-1968 là 40% [trích dẫn theo 2]; theo Nguyễn Xuân Hiền-1960 là 46%[2]. Như vậy, kết quả của chúng tôi đều thấp kết quả của các tác giả trong và ngoài nước có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

+ Thức ăn và rượu: Kết quả thấy một số thức ăn và rượu có ảnh hưởng đến tiến triển (tái phát, vượng bệnh) bệnh vảy nến chiếm 31,52%. Trong đó, thịt chó là một loại thực phẩm ảnh hưởng rõ đến bệnh vảy nến, tiếp đến thịt gà, hải sản, rượu. Trần Văn Tiến-2004 chiếm 23,13%[5]. Cơ chế tác dụng của các thức ăn đó hiện nay chưa được biết rõ, nhưng có lẽ do một số cá thể có cơ địa dị ứng với một số thức ăn giàu chất đạm như thịt chó, tôm, cua... Khi các thức ăn đó vào một cơ thể dễ mẫn cảm và làm hoạt hóa hệ miễn dịch làm bệnh vảy nến xuất hiện.

2. Một số đặc điểm lâm sàng

- Vị trí tổn thương đầu tiên: tại bảng 9 cho thấy tổn thương da lúc khởi phát bệnh chủ yếu gặp vùng da đầu chiếm 84,87%. Kết quả chúng tôi cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả trong và ngoài nước cho rằng đa số bệnh vảy nến khởi phát ở vùng đầu. Nguyễn Xuân Hiền điều tra 77 bệnh nhân vảy nến khởi phát vùng đầu chiếm 64,93% [2]; Trần Văn Tiến-2004 chiếm 67,16% [5]; Theo Huriez và Dubeis-1969 là 51%. Như vậy, kết quả của chúng tôi đều cao hơn các tác giả trong nước có nghĩa thống kê với p<0,05. Từ những kết quả trên, là một gợi ý cho các nhà chuyên môn khi da đầu có tổn thương bong vảy cần chú ý khởi đầu của vảy nến.

- Các thể lâm sàng: kết quả bảng 10 cho thấy vảy nến thông thường chiếm 85,87%, đỏ da róc vảy toàn thân 5,43%, mụn mủ và thể khớp đều chiếm 4,35%. Kết quả cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả là vảy nến thông thường chiếm tỷ lệ cao nhất.

- Mức độ bệnh: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại bảng 11 cho thấy bệnh vảy nến mức độ vừa chiếm tỷ lệ cao nhất 50,54%, nặng 37,5% và nhẹ 11.96%. Theo Nguyễn Thị Minh-2008, cho thấy bệnh vảy nến mức độ vừa 65,4%, nặng 23,1% và nhẹ 11,5% [3]. Như vậy, kết quả của chúng tôi cũng tương đương Nguyễn Thị Minh với p>0,05.

5. KẾT LUẬN

- Một số yếu tố liên quan: Tuổi đời từ 40-49 chiếm 33,7%, từ 20-59 là 76,63%; tuổi bệnh từ 5-10 năm chiếm 37,5%; nam chiếm 86,95%; bộ đội 42,93%; stress gặp 42,39%; thức ăn (thịt chó, cá, gà, rượu) 31,52%;  vảy nến tháng 10-12 là 47,28%; tiền sử gia đình 17,93%; rối loạn chuyển hóa lipid 41,36%, tăng huyết áp 15,22%, đái tháo đường 7,6%.

- Một số đặc điểm lâm sàng: Vị trí tổn thương khởi phát vùng đầu chiếm 84,24%, thể thông thường chiếm nhiều nhất 85,87% và mức độ vừa chiếm 50,54%, nặng 37,5% và nhẹ 111,96%.

Nguyễn Lan Hương*, Đặng Văn Em**, Lê Thanh Hùng**

*Bệnh viện 198

*Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Bài viết được trích trong Tạp chí Da liễu số 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009), “Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng và tác dụng điều trị bệnh vảy nến bằng đường uống Methotrexate trong 36 giờ/tuần, Luận văn Thạc sỹ y học, 73 tr.

2. Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Cảnh Cầu, Trương Mộc Lợi (1992), "Bệnh vảy nến", Nhà xuất bản Y học, 139 trang.

3. Nguyễn Thị Minh (2007), “Nghiên cứu hiệu quả điều trị hỗ trợ bệnh vảy nến thông thường bằng tắm nước khoáng Mỹ Lâm-Tuyên Quang”, Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, tr.3 - 20.

4. Nguyễn Thị Kim Oanh (2007), “Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh vảy nến đến chất lượng cuộc sống người bệnh”, Luận văn Thạc sỹ y học, Học viện Quân y, 69 tr.

5. Trần Văn Tiến (2004), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và miễn dịch tại chỗ của bệnh vảy nến thông thường", Luận án Tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.

6. Gudjonsson JE., Elder JT (2008), Psoriasis Fitzpatrick's Dermatology in general Medicine. The McGraw - Hill, Seventh edition, vol 1, pp. 169 - 193.

7. Habif TP (2010), Psoriasis, Clinical Dermatology, Fifth Edition, Mosby Elseveier, pp.264 - 307.

 

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Viêm mô mỡ (22/06/2015)  
Bệnh nám da (07/04/2015)  
U hạt hình nhẫn (06/04/2015)