Quản lý người bệnh đái tháo đường type 2
(08:47 | 28/06/2014)
  - Mục tiêu nhằm phát hiện và chẩn đoán sớm, theo dõi liên tục người bệnh đái tháo đường typ 2 và hạn chế biến chứng.

Các chỉ số cần đánh giá

Xác định những người có yếu tố nguy cơ ĐTĐ typ 2 nhưng chưa được chẩn đoán đái tháo đường:

- Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường (khát nước, đái nhiều, gây sút cân, có các nhiễm trùng).

- Tuổi trên 45.

- Thừa cân (BMI 23 và vòng eo90 cm với nam giới hoặc 80cm với nữ giới).

- Tăng huyết áp.

- Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường.

- Phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai nghén.

- Phụ nữ có tiền sử sinh con nặng cân (4000g).

- Phụ nữ có tiền sử sản khoa (sảy thai hoặc thai chết lưu).

- Người có rối loạn dung nạp glucose hoặc có rối loạn đường huyết lúc đói.

- Người có bệnh mạch vành hoặc đột quỵ.

- Định lượng đường huyết – tốt nhất là làm lúc đói.

Chăm sóc người bệnh

- Kiểm soát đường huyết: định lượng HbA1c - trong phòng xét nghiệm ít nhất một năm một lần với tất cả bệnh nhân đái tháo đường, lý tưởng nhất là3 đến 6 tháng một lần. Nếu không làm được HbA1c định lượng glucose máu mỗi tháng một lần. Mục tiêu với HbA1c 7% (bình thường 4-6%), đường huyết lúc đói  6 (mol/l), 2 giờ sau ăn 8 (mol/l). Hành động can thiệp được khuyến cáo với HbA1c > 8 mol/l/2 giờ sau ăn >10 mol/l.

- Kiểm soát huyết áp: đo huyết áp mỗi lần bệnh nhân đến khám. Bình thường và mức mục tiêu điều trị khi huyết áp 130/85 mmHg, tăng huyết áp khi 140/90mmHg. Khi có các yếu tố nguy cơ mạch máu khác, tăng huyết áp khi 130/85 mmHg và mục tiêu điều trị là chỉnh về huyết áp < 125/75 mmHg.

- Kiểm soát lipid: định lượng lipid lúc đói gồm cholesterol toàn phần triglycerid và HDL cholesterol. Nếu bình thường, định lượng mỗi năm một lần. Nếu bất bình thường hoặc đang điều trị định lượng 6 tháng một lần.

- Tự chăm sóc: đánh giá nhu cầu đối với giáo dục bệnh đái tháo đường và tự kiểm soát đường huyết. Đánh giá kết quả mỗi năm một lần.

Phát hiện và quản lý biến chứng

- Vấn đề bàn chân: khám bàn chân thường xuyên mỗi năm một lần với tất cả bệnh nhân đái tháo đường. Khám thường xuyên hơn ở các nhóm phân loại khác về nguy cơ bệnh lý bàn chân. Hỏi các bệnh lý bàn chân đã có trước đó, các triệu chứng thần kinh, đau khi nghỉ ngơi và đau cách hồi. Khám bàn chân để xác định nhiệt độ da của bàn chân. Khám thần kinh bằng kiểm tra cảm giác bảo vệ hoặc dùng âm thoa. Kiểm tra mạch máu ngoại vi ở vùng bàn chân. Kiểm tra đồ đi ở chân.

- Bệnh lý mắt: khám thị lực, kiểm tra xem có đục thủy tinh thể không. Soi đáy mắt sau khi tra thuốc giãn đồng tử. Cần khám mắt khi chẩn đoán bệnh đái tháo đường và sau đó mỗi năm một lần với đái tháo đường typ 2.

- Bệnh lý thận: tim protein niệu bằng que thử, nếu âm tính tim microalbumin niệu trong mẫu nước tiểu đầu tiên vào buổi sáng hoặc lấy nước tiểu 24 giờ. Xác định chẩn đoán microalbumin niệu bằng nhắc lại xét nghiệm định lượng trong vòng 6 tuần. Định lượng creatini huyết thanh nếun có protein hoặc albumin niệu. Làm xét nghiệm định lượng khi chẩn đoán bệnh đái tháo đường và sau đó mỗi năm một lần với đái tháo đường typ 2. Với bệnh nhân đang được điều trị, có microalbumin niệu xét nghiệm 6 tháng một lần.

- Bệnh lý tim mạch: đánh giá các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường và đánh giá bệnh đái tháo đường ở các bệnh nhân tim mạch. Với bệnh nhân đái tháo đường đánh giá hàng năm, nếu chưa được chẩn đoán bệnh đái tháo đường, đánh giá vào thời điểm xuất hiện triệu chứng tim mạch.

- Rối loạn chức năng tình dục: xem bệnh nhân nam có bị rối loạn cường dương không và các thuốc họ được chỉ định dùng. Với bệnh nhân nữ hỏi về các rối loạn chức năng tình dục mỗi năm một lần.

- Đái tháo đường và thai nghén: khám sàng lọc tất cả phụ nữ có thai ở tuần 24-28 của thai kỳ thuộc các nhóm sau để phát hiện đái tháo đường thai nghén tuổi 25, tăng cân (BMI23) trước khi có thai, có tiền sử đái tháo đường thai nghén, có tiền sử đẻ con nặng cân, có tiền sử sản khoa, có rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn đường huyết lúc đói 6,1 mmol/l hoặc sau 2 giờ 7,8mmol/l.

Hướng dẫn xử trí

- Huyết áp: tất cả những người có tăng huyết áp đều cần can thiệp không dùng thuốc, bao gồm:

+ Kiểm soát cân nặng.

+ Luyện tập thể lực đều đặn với cường độ trung bình.

+ Chế độ ăn giảm muối.

+ Giảm uống rượu và tránh uống say.

+ Khuyến cáo ngừng hút thuốc lá.

+ Nếu cần phải can thiệp bằng thuốc.

+ Các thuốc ức chế men chuyển là thuốc được ưa thích hơn trong điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường.

+ Tránh dùng thuốc lợi tiểu thiazid vì có thể làm tăng rối loạn dung nạp glucose.

+ Hầu hết bệnh nhân đều cần phối hợp ít nhất là 2 thuốc để kiểm soát huyết áp.

- Với lipid: các can thiệp không dùng thuốc được coi như điều trị ban đầu. Nếu sau 6 tháng không thành công phải cân nhắc điều trị bằng thuốc.

- Tự chăm sóc:

Cung cấp cho bệnh nhân các kiến thức cần thiết về bệnh đái tháo đường.

Hướng dẫn cho bệnh nhân cách tự kiểm tra đường máu và thường xuyên kiểm tra kỹ thuật định lượng đường máu của bệnh nhân.

Kiểm tra kết quả tự định lượng đường máu và thay đổi chế độ điều trị nếu cần.

Nếu cần điều trị bằng insulin, phải thảo luận sớm với bệnh nhân và gia đình.

Xem hướng dẫn về chế độ ăn uống cho bệnh nhân đái tháo đường.

Khuyến khích tăng cường hoạt động thể lực - khoảng 30 phút mỗi ngày đối với người có tình trạng sức khỏe và tuổi trung bình.

- Bệnh lý mắt: cần có chuyên gia nhãn khoa hoặc những nhân viên y tế khác đã được huấn luyện về nhãn khoa đánh giá:

Khi khám bệnh lần đầu nếu thấy thị lực<10/10 ở bất cứ bên mắt nào dù đã đeo kính điểu chỉnh (cận/viễn) hoặc đeo kính hở lỗ.

Trong các lần khám tiếp theo sau nếu phát hiện có giảm thị lực.

Nếu phát hiện thấy bất kỳ bất thường nào ở võng mạc.

Nếu không nhìn rõ võng mạc.

Khi khám phát hiện thấy có bệnh lý võng mạc, phải xem lại sự kiểm soát bệnh ĐTĐ và tìm mọi cách cải thiện chất lượng quản lý bệnh.

- Bệnh lý thận: nếu có microalbumin niệu và tăng huyết áp: điều trị huyết áp về dưới 125/75mmHg, xem lại và cải thiện chất lượng kiểm soát đường huyết nếu cần. Nếu chỉ có microalbumin niệu, xem lại và cải thiện chất lượng kiểm soát đường huyết. Điều trị thuốc ức chế men chuyển liều thấp. Nếu có microalbumin niệu hoặc protein niệu hoặc creatimin tăng cao chuyển bệnh nhân tới bệnh viện chuyên khoa.

- Bệnh lý tim mạch:

Xử trí yếu tố nguy cơ đã được xác định như đã nói đến trong các phần khác của tài liệu này.

Ngừng hút thuốc lá.

Nghĩ đến việc dùng aspirin ở tất cả các bệnh nhân đái tháo đường trên 40 tuổi (trừ khi có chống chỉ định).

Kiểm soát chặt chẽ đường huyết khi đã có triệu chứng tim mạch.

Nghĩ đến việc dùng wafarin ở những người có rung nhĩ.

- Rối loạn chức năng tình dục:

Tăng cường nhận thức về vấn đề này cho người bạn tình của bệnh nhân. Nên nghĩ đến các nguyên nhân có thể khác, đặc biệt là các thuốc điều trị tăng huyết áp. Cải thiện chất lượng kiểm soát đường huyết nếu phù hợp. Ở nam giới có thể cân nhắc dùng viagra, tiêm prostaglandin vào trong thể hang, dùng thiết bị hút chân không. Hiện chưa có thuốc điều trị cho phụ nữ.

- Đái tháo đường thai nghén:

Phụ nữ bị đái tháo đường thai nghén cần phải được cả bác sĩ sản khoa và bác sĩ chuyên khoa đái tháo đường phối hợp chăm sóc trong suốt thời kỳ mang thai.

6 tuần sau khi sinh, những phụ nữ bị đái tháo đường thai nghén cần phải được định lượng đường huyết tương lúc đói. Nếu kết quả 7,0mmol/l (126 mg/dL) thì người đó hầu như chắc chắn bị đái tháo đường.

 Những phụ nữ đã được chẩn đoán đái tháo đường thai nghén cần được tư vấn về chế độ ăn uống và luyện tập sau khi sinh để giảm nguy cơ phát triển thành bệnh đái tháo đường.

Phụ nữ bị đái tháo đường thai nghén nên định lượng đường huyết tương lúc đói mỗi năm một lần vì họ có nguy cơ cao phát triển thành bệnh đái tháo đường trong một tương lai không xa.

 

TS.Tạ Văn Bình

Giám đốc Bệnh viện Nội tiết

(TTVN số 4)

 

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 
   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Đái tháo nhạt (23/05/2014)  
Vô kinh (19/05/2014)  
Axit uric (19/05/2014)  
Rậm lông (15/05/2014)