TỔNG QUAN VỀ CẤY GHÉP TỦY XƯƠNG
(16:44 | 10/08/2011)
 - Cấy ghép tủy xương (Bone Marrow Transplantation - BMT) là một điều trị được sử dụng trong một số loại ung thư. Tủy xương là vùng mềm xốp, ở trung tâm của một số các xương lớn của cơ thể. Tủy xương sản xuất tất cả các tế bào khác nhau tạo nên máu chẳng hạn như tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Tất cả các tế bào này phát triển từ một loại tế bào cơ sở tìm thấy trong tủy xương, được gọi là tế bào gốc tạo máu.

(Bone marrow transplantion overview. Author: Robert S Negrin, MD. Section Editor: Nelson J Chao, MD. Deputy Editor: Stephen A Landaw, MD, PhD)

Thạc sỹ Quách Hữu Trung
Khoa Nội tiết - Huyết học lâm sàng

SUMMARY: Bone marrow transplantation (BMT) is a treatment used in some types of cancer. Bone marrow is the soft, spongy area in the center of some of the larger bones of the body. The marrow produces all of the different cells that make up the blood, such as red blood cells, white blood cells, and platelets. All of these cells develop from a type of basic cell found in the bone marrow, called a stem cell.

       In bone marrow transplantation, the patient is given very high doses of chemotherapy or radiation therapy, which kills cancer cells and destroys all the normal cells developing in the bone marrow, including the critical stem cells. After the treatment, the patient must have a healthy supply of hematopoietic stem cells reintroduced, or transplanted.

       There are two types of bone marrow transplantation, autologous and allogeneic. An autologous bone marrow transplant uses a patient's own bone marrow or blood. An allogeneic bone marrow transplant uses a donor's bone marrow or blood. The donor is usually a relative of the patient (eg, sister), although unrelated donors are sometimes used.

       Most patients who have bone marrow transplantation must remain in the hospital for several days or weeks during their treatment and recovery. It is important to understand and follow the hospital's bone marrow transplantation treatment plan to minimize the risk of complications (eg, infection) and to know what to expect in advance. The treatments required before and during bone marrow transplantation can have serious side effects. Patients should be aware of the most common side effects (eg, diarrhea, nausea, vomiting, mouth sores) as well as the types of treatments that are available to improve comfort. Following bone marrow transplantation, most people stay in the hospital for several weeks. However, even after going home, frequent visits with a doctor or nurse are needed for 3 to 6 months.

TÓM TẮT: cấy ghép tủy xương (Bone Marrow Transplantation - BMT) là một điều trị được sử dụng trong một số loại ung thư. Tủy xương là vùng mềm xốp, ở trung tâm của một số các xương lớn của cơ thể. Tủy xương sản xuất tất cả các tế bào khác nhau tạo nên máu chẳng hạn như tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Tất cả các tế bào này phát triển từ một loại tế bào cơ sở tìm thấy trong tủy xương, được gọi là tế bào gốc tạo máu.

       Trong ghép tủy xương, bạn dùng liều rất cao hóa trị hoặc xạ trị để giết chết tế bào ung thư và tiêu hủy tất cả các tế bào bình thường phát triển trong tủy xương, bao gồm cả các tế bào gốc quan trọng. Sau khi điều trị, bạn phải có một nguồn cung cấp tế bào gốc lành mạnh đưa vào lại hoặc cấy ghép.

       Có hai loại cấy ghép tủy xương, ghép tự thân và ghép đồng loài. Ghép tự thân sử dụng tủy xương hoặc máu của bản thân bệnh nhân. Ghép đồng loài sử dụng tủy xương hoặc máu của người cho thường là thân nhân của bệnh nhân (anh, chị em ruột), mặc dù người cho không cùng huyết thống đôi khi được sử dụng.

       Hầu hết các bệnh nhân cấy ghép tủy xương phải ở trong bệnh viện vài ngày hoặc vài tuần trong quá trình điều trị và phục hồi. Điều quan trọng là phải hiểu và có kế hoạch điều trị ghép tủy ở bệnh viện để giảm thiểu nguy cơ biến chứng (ví dụ như nhiễm trùng) và dự đoán những gì sẽ xảy ra. Các phương pháp điều trị cần thiết trước và trong khi cấy ghép tủy xương có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng. Bệnh nhân nên được nhận thức của tác dụng phụ thường gặp nhất (ví dụ như tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau miệng) cũng như các phương pháp điều trị sẵn có để cải thiện tình trạng bệnh. Sau cấy ghép tủy xương, hầu hết bệnh nhân ở lại bệnh viện trong vài tuần. Tuy nhiên, ngay cả sau khi về nhà, thăm khám thường xuyên với bác sĩ hoặc điều dưỡng là cần thiết trong 3-6 tháng.

Đặt vấn đề: (Bone Marrow Transplantation - BMT), còn gọi là cấy ghép tế bào gốc tạo máu hoặc cấy ghép tế bào tạo máu, là một loại điều trị ung thư (và một vài bệnh lý khác). Việc hiểu biết các chức năng bình thường của tủy xương sẽ giúp đỡ trong sự hiểu biết về cấy ghép tuỷ xương.

Chức năng tủy xương: tủy xương là vùng mềm xốp, ở trung tâm của một số các xương lớn trong cơ thể. Tủy xương sản xuất tất cả các tế bào khác nhau tạo nên máu, chẳng hạn như tế bào hồng cầu, các tế bào bạch cầu (gồm nhiều loại khác nhau), tiểu cầu. Tất cả các tế bào này phát triển từ một loại tế bào tiền thân được tìm thấy trong tủy xương, được gọi là tế bào gốc tạo máu.

       Cơ thể có thể điều khiển tế bào gốc tạo máu để phát triển thành các thành phần máu cần thiết ở bất kỳ thời điểm nào. Đây là một quá trình rất tích cực, với tủy xương sản xuất hàng triệu tế bào khác nhau mỗi giờ. Hầu hết các tế bào gốc nằm ở tủy xương cho đến khi chúng được chuyển đổi thành các thành phần máu khác nhau, sau đó sẽ phát hành vào dòng máu. Số lượng nhỏ các tế bào gốc, tuy nhiên, có thể tìm thấy lưu thông trong máu, cho phép được thu thập trong một số trường hợp. Các chiến lược khác nhau có thể được sử dụng để tăng số lượng các tế bào gốc tạo máu trong máu trước khi được thu gom.

Cấy ghép tủy xương: một số phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh ung thư, chẳng hạn như hóa trị và xạ trị, rất độc cho tủy xương. Nói chung, liều càng cao, càng có nhiều các hiệu ứng độc hại trên tủy xương. Trong cấy ghép tủy xương, bạn dùng liều rất cao hóa trị hoặc xạ trị để giết chết tế bào ung thư và tiêu hủy tất cả các tế bào bình thường phát triển trong tủy xương, bao gồm cả các tế bào gốc quan trọng. Sau khi điều trị, bạn phải có một nguồn cung cấp tế bào gốc lành mạnh đưa vào lại hoặc cấy ghép. Các tế bào được ghép sau đó thiết lập lại quá trình sản xuất tế bào máu trong tủy xương.

       Các tế bào gốc được cấy ghép có thể được lấy từ tủy xương (gọi là cấy ghép tủy xương), từ máu (gọi là ghép tế bào gốc máu ngoại vi, trong đó yêu cầu bạn dùng thuốc để tăng số lượng các tế bào gốc tạo máu trong tuần hoàn) hoặc đôi khi từ máu lấy từ dây rốn tại thời điểm ra đời của một trẻ sơ sinh bình thường (gọi là ghép tế bào gốc máu dây rốn).

Các loại cấy ghép tủy xương: có hai loại chính của cấy ghép tuỷ xương là ghép tự thân (autologous) và ghép đồng loại hay đồng loài (allogeneic).

      Ghép tự thân: trong cấy ghép tự thân, tế bào gốc tạo máu của riêng bạn được lấy ra trước khi điều trị hoá chất liều cao hoặc xạ trị liều cao. Trong một số trường hợp, các tế bào này được làm sạch để loại bỏ bất kỳ tế bào ung thư còn sót lại, sau đó được đông lạnh để lưu trữ và sử dụng. Sau khi hóa trị hoặc xạ trị của bạn hoàn thành, các tế bào này được rã đông và quay trở lại cơ thể bạn.

       Ghép đồng loại: trong cấy ghép đồng loại, các tế bào gốc tạo máu lấy từ một người cho, lý tưởng là anh chị em với một kiểu di truyền tương tự. Nếu bệnh nhân không có anh chị em phù hợp, một người không liên quan với kiểu di truyền tương tự có thể được sử dụng.

       Loại hình ghép nào tốt nhất? Bác sĩ sẽ xác định xem ghép đồng loại  hoặc ghép tự thân là tốt nhất, dựa vào nhiều yếu tố bao gồm loại ung thư của bạn, tuổi, sức khỏe tổng thể và người cho thích hợp. Theo nguyên tắc chung, ghép tự thân có ít tác dụng phụ nghiêm trọng, vì bạn được nhận các tế bào từ chính cơ thể của bạn. Tuy nhiên, một số ghép tự thân có thể ít hiệu quả hơn ghép đồng loại trong điều trị một số loại ung thư.

       Trong một cuộc ghép đồng loại, hệ thống miễn dịch của người cho (được tạo ra từ tế bào gốc tạo máu) nhìn nhận các tế bào của bạn (bao gồm cả các tế bào khối u) như là một dị nguyên và chống lại nó. Phản ứng có lợi này được gọi là hiệu lực mảnh ghép chống lại khối u (graft versus tumor effect). Trong nhiều bệnh ung thư, các phản ứng miễn dịch gây ra bởi các tế bào ghép cải thiện tính hiệu quả tổng thể của điều trị. Phản ứng miễn dịch này giúp hủy bất kỳ phần còn sót lại nào của các tế bào ung thư trong cơ thể.

Lựa chọn người cho ghép tủy xương: có rất nhiều lựa chọn có thể đối với một người cho tế bào gốc tạo máu. Dưới đây là những trường hợp có thể:

       Người cho phù hợp: để giúp giảm thiểu những vấn đề có thể gây ra bởi các phản ứng miễn dịch, người cho có kiểu di truyền tương tự như của bạn được ưu tiên. Các tế bào của bạn sẽ có vẻ "ít xa lạ" với các tế bào ghép của người cho. Anh chị em ruột là các thành viên duy nhất của gia đình bạn được xét nghiệm để trở thành người cho vì họ có một một trong bốn cơ hội chia sẻ của các đặc tính di truyền với bạn, những đặc tính này rất quan trọng cho cơ thể của bạn để chấp nhận mảnh ghép. Nói chung, cha mẹ, con cái và thân nhân không phù hợp là người cho vì họ không chia sẻ cùng cha mẹ do đó không có cùng một chất liệu di truyền.

       Người cho phù hợp không cùng huyết thống: nếu không có anh chị em ruột hoặc nếu xét nghiệm máu của các anh chị em ruột không phù hợp, một người cho không cùng huyết thống có thể được sử dụng. Việc tìm kiếm một người cho thích hợp có thể được thực hiện bằng cách sử dụng đăng ký ghép trên phạm vi toàn thế giới.

       Người cho không cùng huyết thống và không phù hợp: một số bệnh nhân được cung cấp điều trị bằng tế bào từ một thành viên gia đình phù hợp một phần (gọi là người cho không phù hợp, cùng huyết thống). Các tế bào gốc tạo máu này có thể được chuẩn bị đặc biệt để giảm thiểu các phản ứng miễn dịch ở bệnh nhân. Một lựa chọn khác là sử dụng máu dây rốn, thu thập từ một trẻ sơ sinh khỏe mạnh tại thời điểm chào đời. Máu này là một nguồn giàu các tế bào gốc tạo máu.

Thủ tục trước cấy ghép tủy xương: cấy ghép tủy xương khác nhau ở các bệnh nhân, phụ thuộc vào loại ung thư, các chương trình điều trị được sử dụng bởi các trung tâm y tế khác nhau, giao thức thử nghiệm lâm sàng (nếu bệnh nhân được ghi danh vào một thử nghiệm lâm sàng), cũng như các yếu tố khác. Các thành phần phổ biến nhất của quy trình cấy ghép tủy xương được vạch ra dưới đây:

       Đánh giá sức khỏe: trước khi ghép tủy xương, bạn sẽ có một bản đánh giá đầy đủ về sức khỏe của bạn. Toàn bộ lịch sử sức khỏe của bạn được xem xét bởi nhóm ghép. Hầu hết các bệnh nhân có một số test kiểm tra. Sức khỏe tâm thần của bạn được hệ thống lại vì những căng thẳng và yêu cầu của ghép tủy xương. Một số bệnh nhân gặp nhân viên tư vấn sức khỏe tâm thần để thảo luận về các mối quan tâm và lên kế hoạch chiến lược đối phó. Bạn cũng sẽ gặp gỡ với một điều phối viên ghép, điều dưỡng để thảo luận về quá trình cấy ghép. Bởi vì bệnh nhân nhận tủy xương sẽ nằm viện trong vài tuần tới vài tháng, điều quan trọng là bạn có một sự hiểu biết rõ ràng về những gì sẽ xảy ra và những điều trị sẵn có. Một số bệnh nhân thích có bạn hoặc thành viên gia đình đi cùng họ, ghi băng lại cuộc trò chuyện với bác sĩ cấy ghép hoặc có thông tin này bằng văn bản để họ có thể xem lại nó sau này.

       Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân ghép tủy xương trong khi họ đang ở đợt thuyên giảm bệnh của họ. Bạn có thể cảm thấy thoải mái khi tiếp nhận điều trị, nhưng bạn phải được chuẩn bị tình huống xấu hơn trong một khoảng thời gian. Bạn phải hiểu rằng bạn sẽ cần điều trị chuyên sâu và theo dõi, nhưng điều đó có lợi ích lâu dài từ điều trị.

       Lập kế hoạch cuộc sống: bệnh nhân sẽ được ở bệnh viện trong vài tuần hay vài tháng cần phải thực hiện kế hoạch liên quan đến gia đình, nhà ở, tài chính, vật nuôi và việc làm. Trong quá trình lập kế hoạch trước khi cấy ghép, bạn nên xem xét hoàn thành một chỉ dẫn nâng cao. Đây là văn bản quy phạm pháp luật mô tả các loại hình chăm sóc bạn muốn trong trường hợp bạn không có khả năng giao tiếp. Chỉ dẫn nâng cao bao gồm mong muốn của cuộc sống, người được ủy quyền lâu dài, đại diện y tế. Một thành viên xã hội hay luật sư có thể cung cấp các văn bản hướng dẫn về những gì là cần thiết. Các điều luật xung quanh những văn bản này khác nhau ở mỗi vùng, do đó, điều quan trọng là đảm bảo các nguyên tắc thích hợp được sử dụng.

       Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm: một số thuốc sẽ được dùng trước, trong và sau khi cấy ghép tuỷ xương. Để tránh sự cần thiết cho nhiều lần đâm kim vào tĩnh mạch, hầu hết bệnh nhân sẽ được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm trước khi điều trị bắt đầu. Điều này đòi hỏi một thủ tục phẫu thuật nhỏ để luồn một ống nhựa mỏng, linh hoạt, vào một tĩnh mạch lớn trong lồng ngực phía trên trái tim. Đường ống này thường có hai hoặc ba cổng để có thể được sử dụng truyền thuốc hoặc các sản phẩm máu (bao gồm cả các sản phẩm tế bào gốc tạo máu), cũng như lấy các mẫu máu. Sau khi đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, bạn phải giữ cho khu vực này sạch sẽ và theo dõi các dấu hiệu, triệu chứng của nhiễm trùng (đau nhức, tấy đỏ, sưng, thoát chất dịch, sốt hoặc ớn lạnh).

       Thu hoạch tế bào gốc tạo máu: nếu bạn ghép tự thân, tế bào gốc tạo máu sẽ được lấy khỏi cơ thể của bạn trước khi hóa trị liệu chuyên sâu hoặc xạ trị bắt đầu. Các nguồn phổ biến nhất cho các tế bào gốc tạo máu là tủy xương và máu ngoại vi.

       Lấy tế bào gốc từ tủy xương: nếu tủy xương của bạn đã bị xâm lấn bởi tế bào ung thư, lấy tế bào gốc tạo máu được thực hiện trước một hoặc nhiều khóa hóa trị liệu. Lấy (gọi là thu hoạch) tế bào gốc tủy xương được thực hiện trong khi bạn được gây tê ngoài màng cứng. Thu hoạch được thực hiện bằng cách sử dụng một kim dài để lấy một mẫu chất lỏng tuỷ xương từ nhiều khu vực ở xương chậu hông của bạn.

       Lấy tế bào gốc từ máu ngoại vi: các thu hoạch của các tế bào gốc máu ngoại vi cũng tương tự như quá trình hiến tiểu cầu. Nó sử dụng một bộ máy, được gọi là một thiết bị lọc, lấy các tế bào gốc tạo máu từ máu trong quá trình lọc. Máu được lấy ra từ một tĩnh mạch ở một địa điểm, lọc và sau đó trả lại tĩnh mạch ở vị trí khác. Quá trình này không cần gây mê.

       Để có được đủ số các tế bào gốc tạo máu trong máu, bạn (hoặc người cho) trước tiên phải được dùng thuốc hoặc yếu tố tăng trưởng để kích thích sản xuất tế bào gốc tạo máu. Người cho khỏe mạnh chỉ dùng yếu tố tăng trưởng, bệnh nhân ung thư có thể dùng yếu tố tăng trưởng đơn độc hoặc kết hợp thuốc. Các yếu tố tăng trưởng được sử dụng phổ biến nhất là yếu tố kích thích tạo bạch cầu (G-CSF hoặc Neupogen ®).

       Thu hoạch tủy xương người cho: những người hiến tủy xương sẽ được thu hoạch tế bào gốc trong khi cấy ghép hoặc một ngày trước đó. Người cho thường được gây mê tổng quát để ngăn ngừa cơn đau. Đau thường là tương đối nhỏ và có thể được điều trị bằng các thuốc giảm đau như acetaminophen. Người cho có thể được nhập viện qua đêm sau thủ tục và thường trở về tình trạng khỏe mạnh trong thời gian 1-2 tuần.

       Ngăn ngừa nhiễm trùng: khi chức năng tủy xương bị phá hủy, bạn có nguy cơ phát triển bệnh nhiễm trùng đe dọa mạng sống vì bạn đã tạm thời bị mất khả năng sản xuất bạch cầu (các tế bào chống nhiễm trùng trong máu). Bạn cũng có nguy cơ chảy máu quá nhiều do có số lượng tiểu cầu giảm trong máu.

       Các bệnh nhân trải qua ghép đồng loại thường được đặt trong phòng cách ly. Không khí của phòng được lọc một chiều kể cả khi cửa được mở ra (gọi là phòng áp lực dương- positive pressure room). Khi cách ly, kết hợp với hạn chế giao tiếp, nhiều người cảm thấy chán nản hoặc lo âu. Các biện pháp phòng ngừa đặc biệt là bắt buộc cho tất cả những người vào phòng để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng. Rửa tay là một trong những biện pháp phòng ngừa quan trọng nhất và đã được chứng minh là làm giảm đáng kể nguy cơ truyền nhiễm. Khách không nên mang trái cây tươi, cây, hoặc hoa vào phòng của bạn bởi vì các vi sinh vật nguy hiểm có thể trú ngụ trong đó.

       Các biện pháp khác có thể được thực hiện để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng. Ví dụ, thuốc kháng sinh, kháng nấm, và/hoặc thuốc diệt ký sinh trùng. Chế độ ăn uống của bạn có thể bị hạn chế để loại trừ các thành phần có chứa sinh vật có khả năng truyền nhiễm. Ví dụ, tất cả các loại thực phẩm cần được nấu chín, nguyên liệu trái cây và rau cần tránh, nước uống cần được tiệt trùng.

       Hầu hết các bệnh nhân có thể tắm. Hiện đã có một lo ngại rằng tắm vòi sen có thể phát tán bào tử nấm, một số trung tâm thích để bệnh nhân tắm bằng một miếng bọt biển hoặc tắm bồn. Bạn có thể mặc áo choàng bệnh viện hoặc quần áo sạch của riêng bạn.

       Truyền các sản phẩm máu: trong thời gian tủy không hoạt động, bạn có thể cần truyền máu hoặc các sản phẩm từ máu, chẳng hạn như hồng cầu để mang ôxy đến mô, tiểu cầu giúp ngăn ngừa chảy máu. Chế phẩm này không chứa bạch cầu và được chiếu xạ để giảm nguy cơ phản ứng miễn dịch.

Ghép tủy xương: khi hóa trị liệu chuyên sâu và/hoặc xạ trị được hoàn tất, bạn sẽ được truyền tế bào gốc của tủy xương hoặc máu ngoại vi đã thu hoạch qua tĩnh mạch, thường là tĩnh mạch trung tâm. Quá trình này thường mất khoảng một giờ và thường không gây đau đớn.

       Các tế bào gốc sẽ tìm đường đến tủy xương và sẽ thiết lập lại sản xuất bình thường các tế bào máu. Quá trình này được gọi là “đậu ghép- engraftment”. Xác định khi “đậu ghép” đã xảy ra là rất quan trọng bởi vì nó được sử dụng để xác định bạn đã an toàn để về nhà hoặc giảm bớt các thủ tục cách ly. Thuốc kích thích tủy xương để sản xuất bạch cầu và hồng cầu có thể được sử dụng khi “đậu ghép” chậm hơn dự kiến.

       Đậu ghép được đo bằng cách đếm tế bào máu hàng ngày. Bạch cầu trung tính là một dấu hiệu của đậu ghép. Đếm số lượng tuyệt đối bạch cầu đa nhân trung tính phải đạt ít nhất 500 cái trong ba ngày liên tiếp để nói rằng đậu ghép đã xảy ra. Điều này có thể xảy ra ngay sau 10 ngày ghép, mặc dù 15-20 ngày là phổ biến cho những bệnh nhân được cho tế bào gốc tủy xương hoặc máu ngoại vi. Đậu ghép thường ở khoảng giữa 21 và 35 ngày đối với ghép tế bào gốc từ máu dây rốn.

       Đếm tiểu cầu cũng được sử dụng để xác định khi đậu ghép đã xảy ra. Việc đếm tiểu cầu phải đạt được giữa 20000 và 50000 cái (không truyền tiểu cầu gần đó). Điều này thường xảy ra cùng một lúc hoặc ngay sau khi đậu ghép bạch cầu trung tính, nhưng có thể mất đến tám tuần lễ cho những người được cho máu dây rốn.

Tác dụng phụ của cấy ghép tủy xương: hóa trị liều cao và chiếu xạ cơ thể có thể tác dụng phụ nghiêm trọng. Bạn nên thảo luận về tác dụng phụ dự kiến, độc tính và rủi ro liên quan cấy ghép tủy xương trước khi quyết định ghép. Bạn sẽ được yêu cầu ký vào giấy đồng ý cho biết bạn đã nhận được thông tin bằng lời nói hoặc văn bản để hiểu những rủi ro và lợi ích của việc điều trị được đề xuất, lựa chọn điều trị thay thế có thể và tất cả các câu hỏi của bạn đã được trả lời. Một số tác dụng phụ thường gặp nhất bao gồm:

       Loét miệng và tiêu chảy: loét miệng và tiêu chảy gây ra bởi các tổn thương trên các tế bào có thời gian phân chia nhanh (như tế bào da trong miệng và đường tiêu hóa) bởi hóa trị và xạ trị. Nếu loét miệng nghiêm trọng và ảnh hưởng đến khả năng ăn uống của bạn, dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch là cần thiết. Thuốc giảm đau cũng thường được cho. Một loại thuốc gọi là KGF (Kepivance ®) đã có để làm giảm cơ hội loét miệng. Trong một nghiên cứu của các bệnh nhân cấy ghép tế bào gốc tự thân với xạ trị, việc sử dụng Kepivance ® giảm đáng kể tỷ lệ loét miệng.

       Buồn nôn và ói mửa: buồn nôn, nôn có thể phòng ngừa và điều trị với một sự kết hợp các loại thuốc, thường bao gồm một chất đối kháng thụ thể 5-HT3 (dolasetron, granisetron, ondansetron, tropisetron, palonosetron), một chất đối kháng thụ thể NK1 (aprepitant (Emend®)) và một steroid (dexamethasone).

       Rụng lông tóc: rụng lông tóc là tạm thời và nói chung bao gồm lông tóc trên đầu, mặt và cơ thể. Sau khi hóa trị liều cao và xạ trị được hoàn thành, lông tóc bắt đầu tái mọc. Không có điều trị sẵn có để ngăn ngừa rụng lông tóc hay tăng tốc độ tái sinh của nó.

       Vô sinh: nguy cơ vô sinh vĩnh viễn sau khi ghép tủy phụ thuộc vào phương pháp điều trị sử dụng (hóa trị liều cao so với xạ trị toàn cơ thể, có chế độ dưỡng bệnh tốt so với không có) và liều lượng nhất định. Nếu bạn đang ở độ tuổi sinh sản, bạn nên nói chuyện với các nhà chăm sóc sức khoẻ của bạn về các lựa chọn để làm giảm nguy cơ vô sinh và các tùy chọn hiến trứng hoặc tinh trùng trước khi điều trị bắt đầu.

       Độc tính lên các cơ quan: tổn thương ở phổi, gan và xương là nguy cơ thiệt hại lớn nhất do kết quả của phương pháp trị liệu được sử dụng với cấy ghép tuỷ xương. Những người đã xạ trị toàn cơ thể có thể phát triển đục thủy tinh thể trong mắt, mặc dù biến chứng này ít phổ biến hơn với các phương pháp điều trị hiện tại của các liệu pháp xạ trị.

       Ung thư thứ phát: có một nguy cơ nhỏ ung thư thứ phát phát triển ở những bệnh nhân ghép tủy xương, có lẽ là kết quả của các phương pháp trị liệu sử dụng cho các ung thư nguyên phát cũng như các phương pháp điều trị cần thiết cho ghép tủy xương. Các bệnh ung thư thứ phát thường phát triển trong nhiều năm (thường là 3-5 năm) sau khi cấy ghép tuỷ xương.

       Bệnh mảnh ghép chống chủ: 10-50% bệnh nhân nhận ghép đồng loại có một hiệu ứng phụ được gọi mảnh ghép chống chủ (graft versus host disease -GVHD). GVHD có thể là cấp tính (phát triển trong vòng 100 ngày đầu tiên) hoặc mãn tính (sau 100 ngày). Vấn đề này không xảy ra sau ghép tự thân. Các "mảnh ghép" dùng để chỉ các tế bào gốc tạo máu cấy ghép, “chủ” dùng để chỉ bệnh nhân nhận ghép. Như vậy, ghép chống chủ đề cập đến một tình trạng mà các tế bào miễn dịch của người cho tấn công một số cơ quan của bạn. GVHD là mối đe dọa lớn nhất, khác với các căn bệnh tiềm ẩn, đối với thành công của ghép tủy xương. Phương pháp được điều trị để giúp ngăn chặn bệnh ghép chống chủ bao gồm các thuốc ức chế miễn dịch, kháng sinh, và đôi khi steroid. Nếu GVHD phát triển, bổ sung điều trị bằng steroid liều cao có thể làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của nó. Các triệu chứng có thể bao gồm phát ban da, tiêu chảy, tổn thương gan hoặc các vấn đề khác phụ thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng.

       Ghép thất bại: đậu ghép thất bại là một biến chứng hiếm xảy ra trong khoảng 1% các trường hợp sau ghép tuỷ xương. Nguy cơ thất bại ghép có thể cao hơn phụ thuộc vào loại hình ghép và nguồn gốc của tế bào gốc tạo máu. Thảo luận về những rủi ro này với nhóm cấy ghép trước khi điều trị.

       Nguy cơ tử vong: ghép tủy xương mang một nguy cơ tử vong liên quan đến điều trị. Nguy cơ tử vong phụ thuộc vào tuổi của bạn, bản chất của các bệnh tiềm ẩn, loại cấy ghép (đồng loại hoặc tự thân) và các yếu tố khác bao gồm: các kỹ năng và chuyên môn của cơ sở ghép. Nguy cơ cũng như những lợi ích tiềm năng của cấy ghép tủy xương cần được thảo luận với nhóm điều trị trước khi ra quyết định về một quy trình cấy ghép.

Chăm sóc sau cấy ghép tủy xương: sau khi đậu ghép xảy ra, tế bào máu tiếp tục tăng và hệ miễn dịch trở nên mạnh mẽ hơn. Bạn thường sẽ được chăm sóc bởi các nhóm cấy ghép và theo dõi chặt chẽ các biến chứng.

       Việc cấy ghép đòi hỏi bạn ở trong bệnh viện 2-3 tuần sau đó. Trong mọi trường hợp, thường xuyên đến khám sức khỏe là cần thiết sau khi xuất viện. Nếu bạn sống ở một khoảng cách xa cơ sở ghép của bạn, bạn nên sắp xếp để sống ở một nơi trong khoảng cách hợp lý đến trung tâm điều trị cho đến khi ít nhất 100 ngày trôi qua kể từ khi ghép.

       Bệnh nhân ghép tủy xương có nguy cơ gia tăng nhiễm trùng trong nhiều tháng sau ghép. Bạn cần phải nhận thức những rủi ro và giám sát bản thân về các triệu chứng của nhiễm trùng, bao gồm sốt (nhiệt độ lớn hơn 100,4ºF hoặc 38ºC), đau hoặc ớn lạnh. Bạn có thể được cho thuốc kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng.

       Nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân trải qua ghép tủy và duy trì sạch bệnh ung thư có chất lượng cuộc sống tốt. Hầu hết các bệnh nhân có thể hoạt động, làm việc ở tình trạng sức khỏe hợp lý. Chất lượng cuộc sống thường tiếp tục cải thiện trong những tháng sau ghép.

Thử nghiệm lâm sàng: một thử nghiệm lâm sàng là một cách kiểm soát cẩn thận để nghiên cứu hiệu quả của các phương pháp điều trị mới hoặc các kết hợp mới của liệu pháp đã được biết đến và bệnh nhân sẽ trải qua cấy ghép tủy xương có thể được yêu cầu tham gia. Hỏi bác sỹ của bạn cho biết thêm thông tin về thử nghiệm lâm sàng, hoặc đọc thêm ở các trang web sau đây: Viện Ung thư Quốc gia (www.cancer.gov/clinicaltrials/). Thư viện Quốc gia Nghiên cứu Y học (Http:www.clinicaltrials.gov/). Thư viện Quốc gia Y học (www.nlm.nih.gov/medlineplus/healthtopics.html). Chương trình quốc gia các người cho tủy (www.marrow.org). Viện Ung thư Quốc gia (www.cancer.gov/). Hội ung thư Mỹ (www.cancer.org).

Tài liệu tham khảo:

1. Socie, G, Mary, JY, Esperou, H, et al. Health and functional status of adult recipients 1 year after allogeneic haematopoietic stem cell transplantation. Br J Haematol 2001; 113:194.

2. Chiodi, S, Spinelli, S, Ravera, G, et al. Quality of life in 244 recipients of allogeneic bone marrow transplantation. Br J Haematol 2000; 110:614.

3. Dominietto, A, Raiola, AM, Van Lint, MT, et al. Factors influencing haematological recovery after allogeneic haemopoietic stem cell transplants: 3. graft-versus-host disease, donor type, cytomegalovirus infections and cell dose. Br J Haematol 2001; 112:219.

4. Leger, CS, Nevill, TJ. Hematopoietic stem cell transplantation: a primer for the primary care physician. CMAJ 2004; 170:1569.

5. Hough, R, Cooper, N, Veys, P. Allogeneic haemopoietic stem cell transplantation in children: what alternative donor should we choose when no matched sibling is available?. Br J Haematol 2009; 147:593.

6. Godley, LA, van Besien, K. The next frontier for stem cell transplantation: finding a donor for all. JAMA 2010; 303:1421.

7. Rowley, SD, Donaldson, G, Lilleby, K, et al. Experiences of donors enrolled in a randomized study of allogeneic bone marrow or peripheral blood stem cell transplantation. Blood 2001; 97:2541.

8. Sacchi, N, Costeas, P, Hartwell, L, et al. Haematopoietic stem cell donor registries: World Marrow Donor Association recommendations for evaluation of donor health. Bone Marrow Transplant 2008; 42:9.

9. Lau, GK, Lie, AK, Kwong, YL, et al. A case-controlled study on the use of HBsAg-positive donors for allogeneic hematopoietic cell transplantation. Blood 2000; 96:452.

10. Strasser, SI, McDonald, GB. Hepatitis viruses and hematopoietic cell transplantation: A guide to patient and donor management. Blood 1999; 93:1127.

11. Niederwieser, D, Gentilini, C, Hegenbart, U, et al. Transmission of donor illness by stem cell transplantation: should screening be different in older donors?. Bone Marrow Transplant 2004; 34:657.

12. Glasser, L, Meloni-Ehrig, A, Greaves, W, et al. Synchronous development of acute myeloid leukemia in recipient and donor after allogeneic bone marrow transplantation: report of a case with comments on donor evaluation. Transfusion 2009; 49:555.

13. Kiss, TL, Chang, H, Daly, A, et al. Bone marrow aspirates as part of routine donor assessment for allogeneic blood and marrow transplantation can reveal presence of occult hematological malignancies in otherwise asymptomatic individuals. Bone Marrow Transplant 2004; 33:855.

14. Kollman, C, Howe, CW, Anasetti, C, et al. Donor characteristics as risk factors in recipients after transplantation of bone marrow from unrelated donors: the effect of donor age. Blood 2001; 98:2043.

15. Davies, SM, Kollman, C, Anasetti, C, et al. Engraftment and survival after unrelated-donor bone marrow transplantation: a report from the national marrow donor program. Blood 2000; 96:4096.

16. Gross, TG, Steinbuch, M, DeFor, T, et al. B cell lymphoproliferative disorders following hematopoietic stem cell transplantation: risk factors, treatment and outcome. Bone Marrow Transplant 1999; 23:251.

(Theo benhvien198)

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Bạch cầu (10/07/2014)  
Trang    1       2     Next