“Thủ phạm” gây viêm loét dạ dày tá tràng
(09:56 | 11/04/2015)
  - Loét dạ dày tá tràng (LDDTT) là một bệnh rất thường gặp ở khắp nơi trên thế giới nhất là ở các nước phát triển. Đây là một sự phá hủy cục bộ niêm mạc dạ dày tá tràng do acid chlorhydric và pepsin.

 Bệnh loét dạ dày tá tràng thường gặp ở nam nhiều hơn nữ. Ở Việt Nam cho tới nay tuy chưa có thống kê chung cho cả nước. Theo Phạm Khuê và cộng sự thống kê ở Miền Bắc năm 1979 tỷ lệ loét dạ dày tá tràng chiếm khoảng 5 - 7% dân số, tỷ lệ mắc loét dạ dày tá tràng trong quân đội là 5,3% và tỷ lệ loét dạ dày so với loét tá tràng là khoảng một phần tư.

Thống kê qua nội soi dạ dày tá tràng của Tạ Long (1994) tại Bệnh viện Trung Ương quân đội 108 (Miền Bắc) tỷ lệ LDD là 11,2%. Tuổi trung bình của bệnh nhân loét dạ dày là 36 ± 13,9; đa số gặp ở lứa tuổi từ 20 -  49.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Cho đến nay chưa tìm ra nguyên nhân chung cho loét, nhưng người ta thấy có một số yếu tố nguyên nhân tham dự vào, đôi khi chúng phối hợp nhau. Các yếu tố này còn có sự tham gia của di truyền, yếu tố tâm thần và môi trường.

- Yếu tố hay được nhắc đến đó là yếu tố di truyền, tần suất xuất hiện cao ở các gia đình có người thân bị bệnh loét, ở những người có nhóm máu O....

- Yếu tố tâm lý đặc biệt là các sang trấn tâm lý và áp lực công việc.

- Sự rối loạn vận động dạ dày ruột, đặc biệt là sự rối loạn quá trình làm vơi dạ dày.

- Các yếu tố môi trường như thức ăn, thuốc lá, và các thuốc giảm đau chống viêm như aspirin, corticoid, các thuốc giảm đau non steroid.

- Do vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori) là loại xoắn khuẩn thường cư trú trong dạ dày mọi người, tỉ lệ nhiễm HP ở nước ta khá cao khoảng 40% dân số, nhưng vi khuẩn HP muốn gây được bệnh VLDD - TT cũng phải cần có những điều kiện là niêm mạc dạ dày bị suy yếu trước. HP được tìm thấy khoảng 70% ở các ổ loét dạ dày - tá tràng.  

Tuy nhiên, đại đa số các trường hợp loét dạ dày tá tràng, chủ yếu là do sự tăng toan của acid dịch vị, hay nói một cách khác trong loét dạ dày tá tràng sự bảo vệ suy yếu không có khả năng chống lại sự tấn công.

   Biểu hiện của bệnh

Đau bụng vùng thượng vị là dấu hiệu thường thấy, tuy nhiên có những đặc điểm khác biệt giữa đau do loét dạ dày và đau do loét tá tràng.

Loét dạ dày: Đau bụng vùng thượng vị đôi khi lan lên ngực sau mũi ức, đau với đặc điểm đau quặn bụng cảm giác như đói cồn cào hoặc đôi khi nóng rát nhưng có khi đau âm ỉ từng đợt có tính chất chu kỳ, những đợt đau thường kéo dài từ 2 - 8 tuần rồi đỡ trong vài tháng có khi vài năm và tái phát đau trở lại. Đau có nhịp điệu trong ngày, thường liên quan đến bữa ăn, xuất hiện từ 30 phút đến 2 giờ sau khi ăn. Tuy nhiên một số trường hợp không có biểu hiện đau nhưng tình cờ khi soi phát hiện loét dạ dày, hoặc phát hiện ra khi có biến chứng thủng, chảy máu. Ngoài ra, bệnh nhân có thể có một số biểu hiện khác như: đầy bụng, chậm tiêu, ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, ợ chua, phân táo lỏng thất thường.

Trong phần lớn trường hợp loét tự lành sẹo sau 2 - 3 tháng, nhưng trong 2 năm đầu tái phát > 50% trường hợp. Tần suất tái phát trung bình là 2 - 3 năm và càng về sau càng giảm dần.

Loét tá tràng: Đau là đặc trưng của loét tá tràng thường rõ hơn loét dạ dày, vì ở đây không có viêm phối hợp. Các đợt bộc phát rất rõ ràng. Giữa các kì đau thường không có triệu chứng nào cả. Đau xuất hiện 2 - 4 giờ sau khi ăn tạo thành nhịp ba kỳ, hoặc đau vào đêm khuya 1 - 2 giờ sáng. Đau kiểu quặn thắt nhiều hơn là đau kiểu nóng ran. Đau ở thượng vị lan ra sau lưng về phía bên phải (l/3 trường hợp). Cũng có 10% trường hợp không đau, được phát hiện qua nội soi hoặc do biến chứng và 10% trường hợp loét lành sẹo nhưng vẫn còn đau.

Trên một nửa loét tá tràng tái phát trong năm đầu. Lâu dài sau 10 - 15 năm 60% bệnh nhân có các triệu chứng được cải thiện, 20% bệnh nhân có biến chứng phải phẫu thuật, 20% diễn tiến loét theo chu kỳ.

Bài viết được trích trong bài "Bệnh loét dạ dày tá tràng - Điều trị và dự phòng" của bác sĩ Nguyễn Bạch Đằng - Học viện Quân y

 

 


   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Trang    1       2     Next