Tiêu chảy cấp tính do vi khuẩn
(15:05 | 09/12/2010)
(TTVN) -  - Tiêu chảy cấp tính là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

Ở Việt Nam, theo thống kê của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, tiêu chảy cấp tính luôn là một trong những bệnh hàng đầu về tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong. Nguyên nhân gây ra tiêu chảy cấp tính có nhiều nhưng trong bài viết này chỉ đề cập đến tiêu chảy cấp tính do một số loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp.

Một số vi khuẩn gây tiêu chảy cấp tính thường gặp: Vibrio cholerae; Salmonella (S. Cholerae-suis, S.enteritidis); Shigella; Escherichia coli; Campylpbacter (C.jejuni, C.coil); Staphylococcus aurus.

1. Tiêu chảy cấp tính (TCCT) do Vibrio cholerae (bệnh tả)

 Bệnh tả là bệnh lây truyền nhiễm tối nguy hiểm vì dễ gây đại dịch và tỉ lệ tử vong cao. Hiện nay, vụ đại dịch tả thứ bảy vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nước châu Phi và Châu Á. Căn nguyên gây bệnh tả là do V.Cholerae – O1 gây ra, gần đây các nhà khoa học đã phát hiện ra Vibrio choleraeO139 (Non O1) gây bệnh tả ở Ấn độ, Nepal… (một số tác giả coi đây là vụ dich tả thứ 8). Nguồn bệnh của bệnh tả là bệnh nhân và người mang khuẩn không triệu trứng, gần đây người ta nói tới mầm bệnh tả trong thiên nhiên có khả năng phát triển và gây bệnh cho con người.

Vibrio cholerae

Diễn biến bệnh ở bệnh nhân tả rất cấp tính:

-          Đột ngột tiêu chảy nhiều lần (vài chục lần/ngày, thậm chí phân tự chảy) với số lượng lớn (có thể tới 300 -500ml/lần). Phân thường trắng đục như nước vo gạo.

-           Có thể nôn, nôn xuất hiện sau khi tiêu chảy, chất nôn giống dich phân.

-          Bệnh nhân thường không đâu bụng và không sốt. Dễ bị sốc do mất nước nhiều và nhanh: bệnh nhân mệt lả, ù tai, khó thở, da khô nhăn nheo, chân tay lạnh, thiểu niệu hoặc vô niệu, nhiệt độ tụt (35oC), mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.

-          Xét nghiệm: hematorit tăng, Na+, K+, Ca++, Cl giảm nhiễm toan.

Điều trị:

 Bù nước điện phân giải là quan trọng nhất: chọn một trong các loại dich sau:

+ Dung dịch Phillips (5g Nacl + 4g NaHCO­­3 + 1kg KCL + 1000ml nước)

+ Dung dịch của  TCYTTG (4g NaCl + 1g KCl + 6,5g Natri acetat +  8g glucose + 1000ml nước).

Nếu bệnh nhẹ uống nước thì dùng Oresol. Với bệnh nhân bị sốc cần truyền tốc độ nhanh, có thể sử dụng 2-3 đường truyền để đảm bảo cung cấp đủ dịch (có thể bộc lộ tĩnh mạch để truyền), theo dõi sát mạch, huyết áp, nước tiểu. Sau 30 phút truyền nếu đủ dịch, bệnh nhân sẽ tỉnh, mạch, huyết áp tăng lên. Khi huyết áp tăng lên đến 100mmHg cần giảm tốc độ truyền dịch, theo số lượng phân để cân đối lượng dịch cần bổ sung, nếu bệnh nhân uống được có thể kết hợp truyền dịch với uống Oresol.

Điều trị đặc hiệu:

Kháng sinh
Trẻ em
Người lớn

Doxycyclin liều duy nhất

 
300mg

Tetracyclin 4 lần/ ngày x 3 ngày

12,5 mg/kg
500mg

Trimethoprim (TMP) + Sulfamethoxazol (SMX) 2 lần/ngày x 3 ngày

TMP 5mg/kg

SMX 25mg/kg

160mg
 800mg

Furazonlidon 4 ngày/lần x 3 ngày

1.25 mg/kg
100mg

Có thể dùng Erythromycin hoặc chloramphenicol thay thế khi không có các loại kháng sinh kể trên hoặc khi có hiện tượng phẩy khuẩn tả kháng với các kháng sinh này. Doxycyclin là loại kháng sinh tốt nhất với người lớn, trừ phụ nữ có thai. Tetracyclin dùng được cho trẻ em vì liều ngắn (3 ngày). TMP +SMX là loại kháng sinh tốt nhất với trẻ em. Furazolidon: kháng sinh tốt nhất với phụ nữ có thai và khi các loại kháng sinh trên bị kháng. Không được dùng thuốc chống tiêu chảy, chống nôn, co mạch, trợ tim, corticoid…trong điều trị bệnh tả.

2. Tiêu chảy cấp tính do Salmonella non typhoid

Bệnh nhân bị TCCT do căn này thường do ăn uống phải thức ăn nước uống nhiễm mầm bệnh nếu không kỹ. Bệnh dễ phát thành dịch vào mùa hè trong các nhà hàng, tiệc cưới…

Biểu hiện lâm sàng: Sốt cao, đau đầu, đau bụng âm ỉ, có lúc quặn thành cơn vùng quanh rốn, tiêu chảy phân lỏng nước màu vàng, không mót rặn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày. Có thể buồn nôn hoặc nôn. Bệnh nhân khát nước, chuột rút. Có thể choáng nếu mất nước, bệnh có thể tự khỏi trong vòng 48-72 giờ.

Điều trị:  Bù nước bằng dung dịch Oresol hoặc truyền tinh mạch Ringer lactat, huyết thanh mặn 9%... Điều trị đặc hiệu là không cần thiết.

Salmonella typhi

3. Tiêu chảy cấp tính do độc tố của Staphilococcus aureus (tụ cầu vàng)

Đây cũng là bệnh rất hay gặp ở Việt Nam. Nguyên nhân do ăn, uống phải thức ăn uống có sẵn độc tố trong quá trình chế biến, bệnh thường phát thành dịch nhỏ trong một nhóm người cùng ăn, uống.

Biểu hiện lâm sàng: Thời gian ủ bệnh ngắn (bệnh) xuất hiện sau khi ăn xong 30 phút đến 2-3 giờ) thường không sốt cao, hoặc sốt nhẹ, đau dữ dội vùng thượng vị, nôn nhiều lần, có thể tiêu chảy (50% bệnh nhân không bị tiêu chảy) vì vậy cần phân biệt với viêm tuy cấp tính (xét nghiệmk amylase), thủng tạng rỗng, tắc ruột (chụp X quang ổ bụng không chuẩn bị phát hiện liềm hơi và mức hơi mức nước).

Staphilococcus aureus

Điều trị: Vì bệnh nhân nôn nhiều nên chọn phương pháp bù dịch bằng đường truyền (Ringer lactat, huyết thanh mặn 9%) và sử dụng thuốc giảm đau (artropin papaverin…) khi đã loại trừ bụng ngoại khoa.

4. Tiêu chảy cấp do Shigella

Là bệnh lây theo đường tiêu hóa, tổn thương của bệnh là viêm đại tràng an tỏa với loét nông, rộng với nhiều điểm xuất huyết. Biểu hiện lâm sàng: sốt vừa cao hoặc cao, mệt mỏi đau đầu, hội chứng ly: đau bụng dọc theo khung đại tràng, đau quặn thành cơn ở hố chậu trái. Tiêu chảy nhiều lần trong ngày, khi đại tiện có triệu trứng rót mặn, phân lỏng, nhày + máu lẫn lộn như nước rửa thịt hoặc nước rửa cá, không dính bô.

shigella

Xét nghiệm: Bạch cầu trung tính tăng, bệnh diễn biến kéo dài nếu không được điều trị đặc hiệu, chuẩn đoán xác định dựa vào phân lập trực khuẩn từ phân, nếu không có điều kiện nuối cấy thì phải xem phân là triệu chứng có giá trị để chuẩn đoán.

Điều trị: Điều trị đặc hiệu với người lớn, và điều trị đặc hiệu là quan trọng nhất. Với các thể nhẹ và vừa thì dùng:

- Ampicilin: người lớn: 1g/lần x 4 lần/ ngày x 5 ngày. Trẻ em: 25mg/lần x 4 lần/ngày x 5 ngày.

- TMP + SMX: người lớn: (TMP 160mg/lần x2 lần/ngày x 5 ngày. Trẻ em: TMP 5mg/kg cân nặng/lần x 2 lần/ ngày x 5 ngày, SMX 25mg/kg cân nặng/lần x 2 lần/ngày x 5 ngày

-. Acid nalidixic: từ 15 đến 20mg/kg/lần x 4 lần/ngày x 5 ngày.

Nếu bệnh nhân mắc bệnh nặng hoặc được xác định là do Sh,shiga gây ra, cân nhắc sử dụng kháng sinh nhóm quinolon thế hệ hai nếu có chỉ định (không sử dụng cho trẻ em dưới 16 tuổi và phụ nữ có thai, đang cho con bú).

-                      Ciprofloxacin: người lớn 500mg/lần × 2 lần/ngày×5 ngày.

-                      Pefloxacin: người lớn 400mg/lần ×2 lần/ ngày ×5 ngày

-                      Ofloxacin : người lớn 200mg/lần ×2 lần/ ngày ×5 ngày

Hiện nay, ampicilin và TMP + SMX đã bị Sh.shiga kháng phổ biến, nhưng các Shigella khác vẫn còn tác dụng. Những quinolon và ciprofloxacin, pefloxacin..rất hiếm gặp kháng, nên dùng để điều trị các thể lị nặng do Sh.shiga.

5. Tiêu chảy cấp tính do Escherichia coli ( E.coli)

Hiện nay người ta biết 5 loại E.coli gây TCCT là: EPEC (Enteropathogenic E.coli), ETEC (Enterotoxigenic E.coli), EAEC (Enterroadherent E.coli), EHEC (Enterohaemorrhagic E.coli) và EIEC (Enteroinvasive E.coli). Những vi khuẩn này đã được phân lập ở Việt Nam, chủ yếu gây bệnh cho trẻ em tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Người lớn hiếm khi mắc bệnh này do phơi nhiễm với mầm bệnh thường xuyên nên đã có miên dịch.

TCCT do EPEC có đặc điểm là phân lỏng nước có nhiều nhày, không có máu, có thể nôn, sốt nhẹ. Bệnh thường tự khỏi không cần điều trị đặc hiệu. Nếu diễn biến kéo dài sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng trẻ em.

EAEC gây tiêu chảy với đặc điểm phân lỏng nhiều nhày, có khoẳng 10% phân có máu, sốt nhẹ có thể đau bụng và nôn. EAEC là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy kéo dài (hàng tuần) ở trẻ sơ sinh dễ dẫn đến suy dinh dưỡng, chậm phát triển chiều cao, cân nặng ở nhiều nước châu Âu và châu Nam Mỹ. Đáng chú ý là ở những trẻ em chậm phát triển này mặc dù bị bệnh nhiễm EAEC nhưng có tỉ lệ không nhỏ không có triệu chứng lâm sàng.

Bệnh do ETEC có đặc điểm là đau bụng quanh rốn, tiêu chảy phân lỏng sệt, sốt và nôn ít gặp ở bệnh nhân TCCT do ETEC. Bệnh có thể tự khỏi không cần điều trị đặc hiệu.

Escherichia coli

EIEC có thể gây ra một trong hai bệnh cảnh lâm sàng: Giống với bệnh do Shigella gây ra: sốc cao, đau quặn hố chậu trái, mót rặn, phân có nhầy máu. Những bệnh nhân này cần điều trị đặc hiệu. Khoảng ½ bệnh nhân có biểu hiện: đau bụng, buồn nôn, phân lỏng nước, không rót mặn..Những bệnh nhân này không đòi hỏi điều trị đặc hiệu.

Bệnh do EHEC phổ biến hơn ở các nước phát triển, đối tượng mắc bệnh à trẻ dưới 10 tuổi và người già. Có thể gây 3 bệnh: tiêu chảy phân không có máu, viêm đại tràng xuất huyết và hội chứng tan máu, ure huyết. Tiêu chảy phân lỏng không có máu kèm theo đau quặn bụng, không mót rặn có thể là biểu hiện lâm sàng chính, nhưng có thể là biểu hiện lúc đầu của viêm đại tràng xuất huyết.

Viên đại tràng xuất huyết là biểu hiện của lâm sàng chính của nhiễm trùng EHEC. Bệnh có đặc điểm: đau bụng dữ dội phân có nhiều máu tươi, không có nhày, hầu hết bệnh nhân không sốt. Đây là đặc điểm giúp phân bietj với các căn nguyên gây tiêu chảy ra máu khác.

Hội chứng tan máu ure huyết: là biến chứng nặng và nguy hiểm dễ gây tử vong cho người già và trẻ em. HUS gây đông máu trong lòng mạch, thiếu máu tan huyết lớn, giảm thiểu tiểu cầu, suy thận cấp tính. HUS xuất hiện sau triệu chứng tiêu chảy đầu tiên trung bình là 7 ngày.

Điều trị: Đối với EPEC, EAEC. ETEC chủ yếu bù nước điện giải. TCCT do EIEC và EHEC cần điều trị là erythromycin, azithromycin, acid nalidixic, người lớn có thể sử dụng nhóm quinolon.

6. Tiêu chảy cấp tính do Campylobacter

Là bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em các nước nhiệt đới đang phát triển.Việt Nam TCCT do căn nguyên này chiếm tỉ lệ 6.5% trẻ em bị tiêu chảy từ 0 -5 tuổi.

Campylobacter

Campylobacter có thể gây tiêu chảy không viêm (phân lỏng không máu, không có bách cầu trong phân), nhiễm khuẩn huyết…ở các nước nhiệt đới đang phát triển chủ yếu tập trung gặp dạng tiêu chảy không viêm. Biểu hiện chủ yếu của tiêu chảy không viêm là đau quặn bụng, phân lỏng không mót rặn. Đau bụng thường kéo dài ngay cả khi phân đã trở về bình thường, sốt cao là triệu chứng ít gặp ở trẻ em, bệnh thường tự khỏi. Đáng chú ý là nhiễm trùng do Campylobacter liên quan chặt chẽ tới hội chứng Guillain – Barre và nhiều trường hợp bại liệt không rõ căn nguyên ở trẻ em. Kháng sinh được lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân nặng theo khuyến cáo của WHO là erythromycin 30 -40 mg/ngày/kg ×7-10 ngày.

TS. Đỗ Trần Anh

 Khoa truyền nhiễm bệnh viện 103


   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Polyp đại tràng (07/04/2014)  
Hội chứng gan thận (12/03/2014)  
Áp xe gan do amíp (21/02/2014)  
Viêm tụy cấp (07/02/2014)  
Ung thư thực quản  (20/01/2014)  
Co thắt tâm vị (15/01/2014)  
Xơ gan (06/01/2014)  
Bác sĩ quan tâm