Xét nghiệm chẩn đoán và theo dõi bệnh tiểu đường
(10:32 | 09/12/2010)
 - Bệnh tiểu đường nếu không được điều trị dễ gây ra các biến chứng nặng nề như bệnh lý tim mạch, hoại tử, tổn thương thận

Định nghĩa: Đái tháo đường (hay tiểu đường) là tình trạng rối loạn chuyển hoá do nhiều nguyên nhân, đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mãn tính và rối loạn chuyển hoá carbonhydrat, protein và chất béo do khiếm khuyết trong sự tiết insulin, trong hoạt động của insulin hoặc do cả hai.

Đái tháo đường có các triệu chứng chính: đái nhiều, khát nhiều, đờ đẫn có thể dẫn tới hôn mê hoặc tử vong nếu không được điều trị.

Nhiều trường hợp bệnh nhân đái tháo đường không có triệu chứng điển hình, do đó việc chẩn đoán, theo dõi diễn biến bệnh hoàn toàn dựa vào các xét nghiệm hóa sinh.

 1. Glucose máu

* Ý nghĩa lâm sàng

- Để xác định mức độ đường trong máu có trong phạm vi cho phép hay không

- Theo dõi, chẩn đoán và giám sát chứng tăng đường huyết, hạ đường huyết. Đặc biệt chỉ số này rất quan trọng trong theo dõi tiểu đường và tiền tiểu đường.

Xét nghiệm máu. (Ảnh-internet)

* Chi tiết về xét nghiệm

Glucose là một đường đơn cung cấp nguồn năng lượng chính cho cơ thể con người. Các carbohydrate chúng ta ăn, sau cùng phải được thủy phân thành glucose trước khi hấp thu vào ruột non. Hầu hết các tế bào của cơ thể đòi hỏi glucose để sản xuất năng lượng; cá biệt các tế bào não và thần kinh chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi mức độ glucose trong máu vẫn ở trên một mức nhất định.

Nồng độ Glucose trong máu được điều chỉnh thông qua insulin, một hormone sản xuất bởi tuyến tụy. Bình thường, nồng độ Glucose trong máu tăng nhẹ sau bữa ăn, cơ thể sẽ tiết ra insulin để hạ thấp chúng. Nếu nồng độ đường trong máu giảm quá thấp, glucagon (một hormon khác của tuyến tụy) được tiết ra để chuyển lượng glycogen dự trữ trong gan thành glucose, giúp nâng lượng đường trong máu. Nếu cơ chế phản hồi glucose / làm việc hiệu quả, lượng đường trong máu sẽ tương đối ổn định. Nếu cân bằng đó bị phá vỡ khiến cho  mức đường trong máu tăng cao, cơ thể cố gắng khôi phục lại sự cân bằng bằng cách tăng tiết insulin và tăng thải glucose ra nước tiểu.

Cả thể tăng đường chuyết cấp tính hay hạ đường huyết có thể đe dọa tính mạng, gây ra suy tạng, tổn thương não, hôn mê, và dẫn đến tử vong. Nồng độ glucose trong máu cao kéo dài có thể gây ra tổn thương đến  thận, mắt, tim và mạch máu, và thần kinh. Còn hạ đường huyết mãn tính có thể dẫn đến tổn thương não bộ và thần kinh.

Một số phụ nữ có thể xét nghiệm thấy đường huyết tăng cao trong khi mang thai, được gọi là bệnh tiểu đường thai. Nếu không được điều trị, điều này có thể làm các bà mẹ sinh ra trẻ có cân nặng cao hơn bình thường.

Các xét nghiệm đường hay được dùng để giúp chẩn đoán bệnh tiểu đường khi có người có triệu chứng của tăng đường huyết hoặc hạ đường huyết, chẳng hạn như:

Tăng đường huyết

Hạ đường huyết

Khát

Đi tiểu nhiều

Mệt mỏi

Mờ mắt

Nhiễm khuẩn chậm hồi phục.

 Ra mồ hôi

 Cảm giác đói

 Run

 Lo âu

Nhầm lẫn

Mờ mắt

 

Ngoài đái tháo đường, một số bệnh khác  có thể dẫn đến thay đổi mức glucose cao bao gồm:

Tăng Gucose máu
Giảm Glucose máu
    
Acromegaly

Stress cấp tính (vi dụ trrong trường hợp chấn thương, đau tim, đột quỵ)

Suy thận mãn
Hội chứng Cushing

Thuốc, bao gồm: corticosteroid, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc lợi tiểu, epinephrine, estrogen (thuốc ngừa thai và hormone thay thế), lithium, phenytoin, salicylat.

Ăn quá nhiều
Hội chưng cường giáp
Ung thư tuyến tụy
 
 
    
 
Suy tuyến thượng thận
Uống rượu nhiều

Dùng thuốc như acetaminophen và Anabolic steroid

Bệnh gan tiến triển
Cường tuyến yên
Cường giáp
Quá liều Insulin
Khi đói
 


Glucose trong máu có thể được đo lường trên cơ sở các nghiệm pháp khác nhau như nhịn ăn (thu thập sau bữa ăn 8-10h), ngẫu nhiên (bất cứ lúc nào), sau một bữa ăn, và theo nghiệm pháp dung nạp Glucose đường uống (OGTT / GTT). Một số nghiệm pháp cụ thể để đo lượng đường trong máu như sau:

Nghiêm pháp Glucose máu nhanh
 
Nồng độ Glucose
Kết luận
70 - 99 mg/dL (3.9 to 5.5 mmol/L)
Bình thường
100 - 125 mg/dL (5.6 to 6.9 mmol/L)

Giảm dung nạp Glucosse

126 mg/dL (7.0 mmol/L) trở lên
Đai tháo đường
 
 
 
Nghiệm pháp dung nạp Glucose (OGTT)

Mẫu được thu thập 2 giờ sau khi cho bệnh nhân uống 75g Glucose

Nghiệm pháp dung nạp Glucose (OGTT)
 
Nồng độ Glucose
Chẩn đoán
Nhỏ hơn 140 mg/dL (7.8 mmol/L)
Bình thường
140 - 200 mg/dL (7.8 to 11.1 mmol/L)

Giảm dung nạp Glucosse

Trên 200 mg/dL (11.1 mmol/L)
Đái tháo đường
 
 
 
Nghiệm pháp dung nạp Glucose sau thời gian theo dõi

Mẫu được thu thập sau khi cho bệnh nhân uống 100g Glucose. (Đơn vị: mmol/L)

Nồnđộ glucoshuyếtương
Khđói

Sau 60p

Sau 120p

Đối vi ngưi ln
 
 
 
Gihbình thường
< 5,5
7,7
6,7
Gidunnp glucose
5,5-6,7
7,8-11,1
6,7-8,3
Đátháo đường
6,7
> 11,1
8,3
Đối vi tr em
 
 
 
Gii hbình thường
< 5,5
8,6
6,9
 
 
 
 
 

* Câu hỏi thường gặp

           1. Tôi có thể tiến hành xét nghiệm glucose tại nhà hay không ?

Xét nghiệm tại nhà chỉ nên tiến hành nếu bạn đã được xác định bị mắc tiểu đường. Còn thông thường chỉ cần tiến hành các biện pháp thăm khám sức khỏe định kỳ là đủ.

           2. Tôi có thể xét nghiệm glucose trong nước tiểu thay cho trong máu được không?

Trong hầu hết các trường hợp thì câu trả lời là “Không” Glucose sẽ thường chỉ xuất hiện trong nước tiểu nếu nó ở mức đủ cao khiến cho cơ thể phải thải trừ bớt vào nước tiểu, hoặc trong các trường hợp tổn thương thận. Tuy nhiênGlucose trong nước tiểu  đôi khi được sử dụng như là một chỉ số đánh giá sơ bộ mức cao của đường máu, đồng thời hữu ích cho việc theo dõi sự hiện diện của protein và ceton trong nước tiểu.

2. C-peptide

* Ý nghĩa lâm sàng: để theo dõi việc sản xuất insulin bởi các tiểu thể beta trong tuyến tụy và để giúp xác định nguyên nhân gây hạ đường huyết.

Test C-peptid kiểm tra nồng độ của các chất này trong máu hay nước tiểu. Proinsulin là tiền chất không hoạt động của insulin và được tổng hợp tại các tế bào beta của tuyến tụy. Quá trình phân tách proinsulin sản xuất ra insulin và C-peptide, được lưu trữ trong các tế bào beta. Khi insulin được huy động và lưu thông vào máu để giúp vận chuyển đường vào các tế bào của cơ thể (để sản xuất năng lượng), thì một lượng tương ứng của C-peptide cũng được bài tiết. Điều này làm cho C-peptide trở thành một chỉ dấu rất hữu ích để đánh giá lượng Glucose trong máu hay nước tiểu.

C-peptide có thể được sử dụng để giúp đánh giá việc sản xuất insulin nội sinh (insulin do cơ thể) và để giúp phân biệt nó từ insulin ngoại sinh (insulin đó không phải sản xuất bởi cơ thể và do đó không tạo ra C-peptide).

Mức độ C-peptide cao chứng tỏ rằng insulin nội sinh được tiết ra nhiều. Điều này xảy ra trong các trường hợp mức độ đường trong máu cao do cơ thể hấp thu nhiều glucose hoặc do kháng insulin (Với kháng insulin, các tế bào của cơ thể không sử dụng được insulin để vận chuyển đường bên trong tế bào). Ngoài ra nồng độ C -peptide cao cũng được ghi nhận trong các trường hợp insulinomas (insulin cao do các khối u sản xuất ra), hoặc trong hội chứng Hạ kali máu, mang thai, hội chứng Cushing, và suy thận.

Mức độ thấp của C-peptide đông thời liên quan đến hiện tượng giảm tiết insulin. Điều này có thể xảy ra khi các tế bào beta không sản xuất đủ insulin hoặc khi quá trình này bị ức chế bởi insulin ngoại sinh. Các chất như somatostatin cũng góp phần làm giảm mức độ C-peptid trong máu.

* Câu hỏi thường gặp

           1. Tôi có thể làm xét nghiệm C-peptide tại nhà?

Test C-peptide cần các thiết bị đặc biệt và yêu cầu kĩ thuật chuyên môn. Do đó bạn không nên tiến hành tại nhà. 

           2. Nếu tôi cần bổ sung insulin ngoại sinh, tôi sẽ cần một test C-peptide?

Có thể. Liệu pháp Insulin thường được khuyến khích cho những người không sản xuất đủ insulin. Đôi khi một xét nghiệm C-peptide sẽ được chỉ định trong thời gian ban đầu để kiểm tra tình trạng của các tế bào beta của bạn và để xem bạn vẫn còn sản xuất insulin đủ hay không.

         3. C-peptide được sử dụng cho mục đích nào khác?

Các nhà nghiên cứu đang bắt đầu hiểu rõ hơn về vai trò của C-peptide trong cơ thể. Tại châu Âu, thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành có liên quan đến cho biện pháp điều trị C-peptid cho bệnh nhân tiểu đường type 1.

 3. Insulin

* Ý nghĩa lâm sàng: để giúp đánh giá quá trình sản xuất insulin, chẩn đoán hội chứng insulinoma, và để giúp xác định nguyên nhân gây hạ đường huyết

Cần xét nghiệm chỉ số insulin khi:

Bệnh nhân có tiền sử hạ đường huyết,

Bệnh nhân có triệu chứng cho thấy cơ thể đang đang không bài tiết hay sử dụng được Insulin một cách bình thường

Bệnh nhân có bệnh tiểu đường và bác sĩ muốn theo dõi quá trình sản xuất insulin.

Theo dõi sự kháng insulin ở bệnh nhân có Polycystic Ovarian Syndrome (PCOS), bệnh nhân có rối loạn tim mạch (đặc biệt là nếu bạn bị béo phì), bệnh nhân bị rối loạn chuyển hoá hoặc các rối loạn liên quan tới các tuyến yên hoặc thượng thận.

Insulin là một hormone được sản xuất và lưu trữ trong các tế bào beta của tuyến tụy. Insulin rất quan trọng cho việc vận chuyển và lưu trữ của glucose ở cấp độ tế bào, nó giúp điều chỉnh mức độ đường trong máu và có một vai trò quan trọng khác trong chuyển hóa lipid. 

Khi nồng độ đường trong máu tăng sau bữa ăn, insulin được bài tiết để vận chuyển đường vào trong các tế bào mô, đặc biệt là các tế bào cơ và tế bào mô mỡ (chất béo). Insulin đồng thời cũng là chất trung gian chuyển hóa lượng glucose dư thừa thành glycogen được lưu trữ tại gan hặc chuyển glucose thành acid béo. Những sản phẩm chuyển hóa này sau đó được các tế bào mô mỡ sử dụng để tổng hợp tryglicerid (một dạng trữ năng lượng bền vững và tập trung hơn của cơ thể).

Nếu không có insulin, glucose không thể tới được hầu hết các tế bào của cơ thể. Nếu không có đường, các tế bào sẽ rơi vào tình trạng “đói glucose” trong khi nồng độ đường trong máu tăng lên đến mức bất thường. Điều này có thể gây rối loạn các quá trình trao đổi chất. Nếu không được xử lí kịp thời có thể dẫn đến tình trạng hôn mê tiểu đường.

Những người bị bệnh tiểu đường type 1 sản xuất insulin rất ít và do đó thường được chỉ đinh tiêm insulin nhiều lần trong ngày. Những người bị tiểu đường type 2 thường có thể sản xuất insulin, nhưng qua thời gian và / hoặc với bệnh béo phì, các tế bào có thể trở nên kháng insulin. Do đó họ cần các chế phẩm thuốc làm tăng sự nhạy cảm của các tế bào với insulin hoặc kích thích cơ thể sản xuất insulin nhiều hơn nữa. Bệnh nhân tiểu đường typ 2 đôi khi cũng cần phải bổ sung insulin để đạt được mức đường bình thường trong máu.

Nồng độ Insulin và glucose trong phải được cân bằng. Hyperinsulinemia là một hội chứng dư thừa insulin trong máu. Hội chứng này gây hạ đường huyết, có thể dẫn đến đổ mồ hôi, đánh trống ngực, đói, nhầm lẫn, mờ mắt, chóng mặt, ngất và co giật. Do não bộ hoàn toàn phụ thuộc vào Glucose huyết để cung cấp năng lượng, hyperinsulinemia có thể dẫn đến sốc insulin và thậm chí tử vong.

Insulin có thể được sử dụng  cùng với glucose và C-peptide, để giúp chẩn đoán insulinomas và giúp chẩn đoán )hạ đường huyết cấp hoặc mãn tính 

Test insulin đôi khi được sử dụng kết hợp với nghiệm pháp dung nạp glucose (GTT). Trong trường hợp đó, glucose trong máu và mức insulin được đo để đánh giá tình trạng kháng insulin, đặc biệt là ở các cá nhân bị béo phì.

Tiêu chuẩn đánh giá xét nghiệm Insulin:
Rối loạn
Insulin
Glucose
Không
Bình thường
Bình thường
Kháng insulin
↑↑
Bình thường hoặc ↑

Không sản xuất đủ insulin (trong bệnh lí đái tháo đường, hội chứng viêm tụy…)

↓↓
↑↑

Hạ đường huyết do thừa insulin

Bình thường hoặc ↑↑
↓↓

↑ = tăng nhẹ;  ↑↑ = tăng nhiều;  ↓↓ = giảm nhiều



Insulin cũng có thể thay đổi trong các bệnh cảnh khác ngoài đái tháo đường, cụ thể như sau:

Tăng Insulin
Giảm Insulin
1. Bệnh to cực
2. Hội chứng Cushing
3. Thuốc

4. Fructose hoặc không dung nạp galactose

5. Insulinomas
6. Béo phì
 
1. Bệnh tiểu đường
2. Suy giáp

3. Bệnh tụy như viêm tuỵ mãn tính

(bao gồm cả xơ nang) và ung thư tuyến tụy

 
 

* Câu hỏi thường gặp

              1. Tôi có thể làm test kiểm tra insulin ở nhà?

Không. Mặc dù mức đường có thể được theo dõi tại nhà, test insulin cần dụng cụ chuyên ngành và kĩ thuật viên có kinh nghiệm .

            2. Tại sao insulin phải tiêm?

Insulin phải được tiêm hoặc được thông qua một thiết bị bơm insulin. Nó không được dùng bằng đường uống bởi Insulin là một protein bị phân hủy trong dạ dày trước khi nó có thể được hấp thu.

4. HbA1c
 
· Ý nghĩa lâm sàng:

Test HbA1c có khả năng đánh giá nồng độ trung bình của glucose trong máu trong 2-3 tháng trước khi làm xét nghiệm bằng cách đo nồng độ của hemoglobin A1c có gắn thêm phân tử glucose. Hemoglobin là một protein vận chuyển oxy được tìm thấy bên trong các tế bào hồng cầu. Hemoglobin bình thường có nhiều dạng khác nhau, trong đó nhiều nhất là hemoglobin A (chiếm khoảng 95-98%). Hemoglobin A có thể được phân loại cụ thể hơn, với một trong đó là hemoglobin A1c. khi glucose lưu thông trong máu, một số phân tử sẽ liên kết với hemoglobin A thành các phân tử glucose-hemoglobin liên kết. Nồng độ đường trong máu càng cao, các hemoglobin liên kết được hình thành càng nhiều. Khi glucose đã liên kết với hemoglobin, phân tử liên kết sẽ tồn tại cho đến hết chu kỳ sống của hồng cầu - bình thường khoảng 120 ngày. Sự kết hợp của glucose và hemoglobin A được gọi là HbA1c  hoặc A1c. A1c được tạo thành hàng ngày và từ từ mất đi khi hồng cầu cũ chết và được thay thế bởi các hồng cầu mới.

Có nhiều cách để tính toán lượng HbA1c. Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ lựa chọn cách hiển thị theo phần trăm đồng thời khuyến cáo người bị tiể đường không nên để tỉ lệ HbA1c vượt quá ngưỡng 7%.

Xét nghiệm HbA1c được sử dụng chủ yếu để giám sát việc kiểm soát glucose của bệnh nhân tiểu đường theo thời gian. Các thử nghiệm A1c cho phép xác định nồng độ trung bình của glucose trong máu trong vài tháng qua. Họ có thể giúp bác sĩ biết nếu bệnh nhân đang dùng các biện pháp để kiểm soát bệnh tiểu đường thành công hay cần phải được điều chỉnh.

Các thử nghiệm A1 được sử dụng thường xuyên để giúp bệnh nhân tiểu đường mới được chẩn đoán xác định nguyên nhân dẫn đến mức độ đường huyêt cao. Nó có thể được chỉ định một vài lần sau khi mức glucose đã được kiểm soát để khăng định hiệu quả điều trị bệnh.

* Câu hỏi thường gặp

            1. Làm thế nào là ước tính mức độ gia tăng glucose trong máu thông qua chỉ số HbA1c ?

Công thức ADAG được sử dụng để tính toán mức glucose từ kết quả A1c của bạn là:

    28,7 X A1c - 46,7 = mức glucose

Ví dụ A1c của 6%. Vậy nồng độ glucose máu sẽ là  28,7 x 6 - 46,7 = 126 mg / dl

Mỗi một phần trăm A1c tăng lên, nó tương đương với mức glucose trung bình của bạn sẽ tăng khoảng 29 mg / dl.

            2. Có thể xét nghiệm HbA1c tại nhà hay không?

Có. Có FDA chấp thuận thử nghiệm có thể được sử dụng ở nhà.

        3. Xét nghiệm A1c có thể được sử dụng theo dõi cho hay chẩn đoán bệnh tiểu đường?

Các xét nghiệm HbA1c chưa được khuyến khích cho các mục đích này. Các thử nghiệm A1c có những ưu điểm của việc không đòi hỏi một người phải nhịn ăn và đưa ra một ước tính của nồng độ đường cho quá khứ vài tháng. Tuy nhiên, kết quả thu được bị ảnh hường bởi nhiều yếu tố như khả năng thiếu máu, hay ảnh hưởng của một số dạng hemoglobin khác A1c.

 
 
Theo medelab

 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Trang    1       2     Next