Thận trọng với chứng đồng tử trắng ở trẻ em

03/07/2018

Chứng bệnh đồng tử trắng ở trẻ em là một trong những chứng bệnh về mắt nguy hiểm, rất khó để phát hiện. Bệnh thường để lại những biến chứng về thị lực của bé. Vì vậy, bố mẹ nên quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của bé và đưa trẻ đi khám sức khỏe định kỳ nhằm tìm ra bệnh và có phương pháp điều trị sớm nhất.

Bé 7 tháng tuổi bị hoại tử mắt vì gia đình tự chữa bệnh theo lời mách

Mù, giảm thị lực sau chấn thương đầu mặt 

LÀM SAO PHÁT HIỆN ĐỒNG TỬ TRẮNG?

Đồng tử trắng thường được phát hiện tình cờ khi nhìn vào mắt trẻ. Người nhìn sẽ thấy đồng tử (con ngươi) có màu trắng mà lẽ ra bình thường là màu đen.

Khi chụp ảnh với đèn có bật flash, đồng tử có thể có màu đỏ. Điều này là hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, khi thấy đồng tử có màu trắng thì không bao giờ là bình thường cả. Khi đó, phải đưa trẻ đi khám nhãn khoa cẩn thận.

Chứng đồng tử trắng ở trẻ em

Chứng đồng tử trắng ở trẻ em

Hầu hết trẻ bị đồng tử trắng không có các triệu chứng như đau  nhức hay đỏ mắt mà chỉ có triệu chứng nhìn mờ hoặc mù thực sự. Tuy nhiên, do bé còn quá nhỏ và mắt  còn  lại giúp bé sinh hoạt bình thường nên triệu chứng nhìn mờ hoặc mù thường không được trẻ chú ý và than phiền với người lớn.

Trong một số trường hợp, nếu đồng tử trắng được phát hiện thoáng qua (trong tối do đồng tử  dãn rộng, liếc mắt qua một hướng) thì cần phải nhỏ thuốc dãn đồng tử và khám bằng dụng cụ chuyên khoa mới phát hiện được.

Lưu ý:

  • Nếu đồng tử trắng được phát hiện bằng mắt thường thì bệnh thường đã ở vào giai đoạn muộn.
  • Khi chụp hình cho trẻ có sử dụng đèn flash, phụ huynh nên chú ý để có thể phát hiện bất thường ở đồng tử của trẻ trên hình
  • Cần phân biệt các bệnh giống với chứng đồng tử trắng: đục giác  mạc, giác mạc trắng, các đục thủy tinh thể.

NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Một số nguyên nhân thường gặp:

  • Đục thủy tinh thể bẩm sinh:

    Đục thủy tinh thể có thể do bẩm sinh hoặc do một số bệnh khác, bao gồm

  • Nhiễm bẩm sinh virut bệnh sởi Đức (rubella) (người mẹ mắc bệnh trong thai kỳ đặc biệt là 3 tháng đầu thai kỳ*)
  • Bệnh galactosemia
  • Bệnh xơ hóa sau thủy tinh thể . ( Đây là nguyên nhân chính gây mù lòa ở trẻ em trước tuổi đi học, thường thấy ở trẻ sinh non và trẻ thiếu  cân nặng khi sinh, nhất là ở các trẻ được hồi sức tích cực lúc mới sinh)
    Tuy nhiên, các trường hợp không rõ nguyên nhân chiếm đến 60 – 80%. Dù việc chẩn đoán bệnh không khó nhưng quá trình điều trị sẽ phức tạp hơn điều trị đục thủy tinh thể ở người lớn.
    Phương pháp điều trị: bệnh nếu để lâu có thể gây nhược thị ở mắt bị đục thủy tinh thể nên cần được phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo. Điều quan trọng là chọn thời điểm phẫu thuật ở tuổi nào và đặt thủy tinh thể nhân tạo ngay từ lần mổ đầu hay trong một lần mổ khác.

Nếu người mẹ bị nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ thì 100% trẻ sinh ra bị đục thủy tinh thể

  • Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non: gặp ở những trẻ có cân nặng dưới 2 kg hoặc tuổi thai dưới 34 tuần, thường gặp ở các trẻ được can thiệp hồi sức tích cực khi mới sinh. Đây là một bệnh nguy hiểm, do sự phát triển hỗn loạn của các mạch máu võng mạc.

    Điều trị:
    laser quang đông hoặc lạnh đông. Nếu bệnh nhẹ, tỷ lệ điều trị thành công có thể lên đến 75%, thị lực không bị ảnh hưởng. Giai đoạn muộn, bệnh nặng với hình thành các tân mạch, dễ dẫn đến mù lòa do bong võng mạc toàn bộ hoặc do di chứng của bệnh glôcôm, hầu như bị cả hai mắt. Biến chứng thường gặp là lé, nhược thị và glôcôm.
  • Ung thư nguyên bào võng mạc:

    Ung thư nguyên bào võng mạc là một bệnh ác tính thường gặp ở trẻ dưới 6 tuổi, nhiều nhất là trẻ từ 1 – 3 tuổi, tuy nhiên một số trường hợp gặp ngay sau sinh, nguyên nhân do di truyền chiếm đến 40%. Là nguyên nhân cực kỳ nguy hiểm của chứng đồng tử trắng. Ngoài ra, còn có một số triệu chứng khác như lé, mắt đau, đỏ mắt… Vì đây là bệnh nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong nếu phát hiện muộn nên cần đưa trẻ đi điều trị sớm và tích cực.

    Phương pháp điều trị: phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Giai đoạn sớm có thể điều trị bảo tồn bằng laser, hóa trị hay xạ trị. (Các trường hợp này hiếm. Giai đoạn này thường phát hiện được qua sàng lọc hoặc khám mắt định kỳ mắt còn lại của bệnh nhi). Giai đoạn muộn (hầu hết các bệnh nhi phải cắt bỏ nhãn cầu). Nếu kết quả giải phẫu bệnh có xâm lấn ra ngoài nhãn cầu thì bệnh nhi cần phải điều trị bổ sung bằng hóa trị và xạ trị để tránh di căn, gây tử vong khi ung thư võng mạc đã lan sang dây thị giác (dây II) hoặc di căn.

  • Bệnh coats:

    Bệnh coats (còn gọi là viêm võng mạc xuất tiết hay dãn các mạch máu nhỏ của võng mạc) là một bệnh bẩm sinh rất hiếm. Bệnh không do di truyền, thường xảy ra ở bé trai dưới 10 tuổi, đa số bị một bên mắt. Khi khám võng mạc thấy các mạch máu giãn nở, ngoằn ngoèo, rỉ ra dưới các mạch này các tinh thể cholesterol và các đại thực bào chứa đầy lipid màu trắng. Bệnh có thể tiến triển thành bong võng mạc, đục thủy tinh thể, glôcôm hoặc viêm màng bồ đào gây mù lòa. Các biểu hiện có thể giống với ung thư nguyên bào võng mạc.

    Điều trị: làm chậm sự phát triển của các mạch võng mạc bằng laser quang đông hoặc lạnh đông nhưng hiệu quả thấp, khó cải thiện chức năng thị giác. Chủ yếu là đề phòng các biến chứng như bong võng mạc, biến chứng tăng nhãn áp để không phải mổ bỏ mắt.

  • Nhiễm giun đũa chó/mèo (toxocara):

    Nhiễm giun đũa chó/mèo (toxocara) thường thấy ở các trẻ lớn hay chơi với chó, mèo. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ còn có những u hạt của võng mạc hoặc bị viêm dịch kính. Bệnh được xác định thông qua các phương pháp: thử huyết thanh, thử PCR, thử ELISA dương tính với Toxocara chó/mèo. Điều trị: cho uống thuốc diệt giun sán và corticoids.

    PGS TS BS Nguyễn Công Kiệt 

    Chuyên khoa Mắt – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

    Trích Tạp chí “Sống khỏe” số 03 – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

    Cách nhận biết đau mắt đỏ 
    Nhìn vào mắt người đau mắt đỏ sẽ bị lây?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *