Loading...
Hotline: 0913322944 (HN)

Cập nhật điều trị nội khoa thoái hóa khớp háng

06/07/2018

 Hoại tử chỏm xương đùi: Bệnh lý khớp háng với biểu hiện đau khớp gối

Kỹ thuật tiêm nội khớp

Khi nào phải mổ thay khớp háng với bệnh nhân hoại tử chỏm xương đùi vô khuẩn

Thoái hóa khớp (THK) nói chung và thoái hóa khớp háng nói riêng là bệnh lý thường gặp và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và giảm chất lượng cuộc sống. Mục tiêu điều trị nhằm kiểm soát triệu chứng, cải thiện khả năng vận động, hạn chế nguy cơ tản phế, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạn chế tối đa những tác dụng không mong muốn của thuốc.

Điều trị THK háng đòi hỏi cách tiếp cận đa mô thức, kết hợp chặt chẽ việc giáo dục bệnh nhân, các biện pháp không dùng thuốc, dùng thuốc và ngoại khoa khi cần thiết ở giai đoạn trễ của bệnh. Điều trị nội khoa có thể bao gồm các liệu pháp giảm đau, tiêm thuốc nội khớp, thuốc giảm triệu chứng tác dụng chậm (SYSADOAs); trong đó các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) là một trong những nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất trên thực tế lâm sàng. Nhìn chung các NSAIDs dù là nhóm không chọn lọc hay ức chế chọn lọc COX-2 không có sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả điều trị ở liều khuyến cáo, nhưng khác nhau ở đặc tính an toàn; đòi hỏi sự lựa chọn hợp lý theo cơ địa người bệnh để đảm bảo hiệu quả điều trị, đồng thời cân bằng, giảm thiểu các nguy cơ tác dụng phụ, đặc biệt trên tiêu hóa, tim mạch, thận.

Từ khóa: Thoái hóa khớp, khớp háng, NSAIDs.

ABSTRACT

UPDATES ON MEDICAL MANAGEMENT OF HIP OSTEOARTHRITIS

Osteoarthritis (OA) in general and hip OA in particular is common and one of the leading causes of disability and decreased quality of life. Treatment goals include pain control, improved function, minimized risk of disability, improved quality of life and minimized medication side effects. Hip OA management requires a multimodal approach, a combination of patient education, non-pharmacologic and pharmacologic therapies and surgery if needed at advanced stages. Medical treatment includes pain therapy, intra-articular injections, and symptomatic slow-acting drugs (SYSADOAs), of which NSAIDs are one of the most commonly prescribed drugs in clinical practice. There are no clear evident differences between non-selective and COX-2 selective NSAIDs in their efficacy but they widely vary in their safety profiles, requiring a proper selection to ensure efficacy and at the same time to balance and minimize their toxicity, especially in gastrointestinal, cardiovascular and renal systems.

Keywords: Osteoarthritis, hip, NSAIDs.

I. ĐẠI CƯƠNG

Với tuổi thọ ngày càng tăng và những thay đổi trong điều kiện sống và lối sống, làm cho thoái hóa khớp (THK) ngày càng trở nên phổ biến. Thực tế, thoái hóa khớp là bệnh lý khớp thường gặp nhất và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, đặc biệt ở người lớn tuổi. Mặc dù không thường gặp như THK khớp gối, THK háng cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong số bệnh nhân THK và theo một số nghiên cứu có khoảng4-8% dân số trên 45 tuổi mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh chung toàn cầu của TKH háng có triệu chứng vào khoảng 1%[3]. THK háng là bệnh lý thường gặp nhất của khớp háng và là lý do hàng đầu của các phẫu thuật thay khớp háng. THK khớp háng có thể ở một bên hoặc cả hai bên. Thường gặp nhất là THK háng nguyên phát. Thoái hóa khớp háng thứ phát có thể gặp sau chấn thương, bất thường bẩm sinh, nhiễm trùng, hoại tử chỏm xương đùi.

Về các yếu tố thuận lợi của THK háng cũng tương tự như THK nói chung, chỉ có một vài điểm khác biệt so với THK các vị trí khác.

 – Tuổi là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Tuổi càng cao nguy cơ càng tăng.

 – Giới tính: tùy vị trí khớp mà sự khác biệt về giới cũng khác nhau; trong khi thoái hóa khớp gối, bàn tay, cột sống thường gặp ở nữ hơn nam giới, thì trong thoái hóa khớp háng nam giới chiếm ưu thế hơn một chút so với nữ.

 – Tình trạng thừa cân, béo phì làm tăng nguy cơ THK. Tuy nhiên ảnh hưởng của béo phì lên THK háng ít rõ rệt hơn đối với THK gối.

 – Di truyền, chủng tộc: Một số bệnh nhân THK có tính gia đình. Đối với THK háng, người da trắng có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn người chấu Á, châu Phi.

 – Các bất thường cấu trúc khớp bẩm sinh, bệnh lý viêm mạn, hoại tử chỏm.

 – Yếu tố nghề nghiệp và chấn thương (tai nạn, tập luyện, thể thao). Các lực cơ học (gấp 3-8 lần trọng lượng cơ thể) tác động lên khớp háng trong những hoạt động chịu tải như đi bộ, chạy, nhảy, bưng bê vật nặng.

Về bệnh bệnh sinh học của THK, mặc dù tổn thương đặc trưng và sớm của THK là sự giáng hóa của sụn khớp, song bệnh lý THK là bệnh lý của toàn bộ các cấu trúc khớp. Ngoài sụn khớp còn có tổn thương viêm của màng hoạt dịch, xương dưới sụn, tổn thương bao khớp, dầy chằng. Quá trình bệnh sinh học được cho là bắt đầu từ tác động cơ học lên tế bào sụn khớp, sự mất cân bằng giữa quá trình đồng hóa và dị hóa ở sụn khớp, sự giải phòng các chất giáng hóa của sụn, tăng tiết các chất oxy hóa (NO, ROS), cytokine (IL-1, TNF), men tiêu protein, tiêu aggrecan như các MMP, ADAMTS-4, 5. Chính những chất hóa học trung gian này tiếp tục hoạt hóa quá trình giáng hóa, chết tế bào sụn, gây viêm ở mô sụn và màng hoạt dịch khớp, thay đổi chu chuyển và cấu trúc xương dưới sụn.

Hình 1. Tóm tắt quá trình bệnh sinh học của Thoái hóa khớp

II. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN THK HÁNG

1. Đặc điểm lâm sàng của thoái hóa khớp háng

Đau là triệu chứng thường gặp nhất của THK háng, điển hình sẽ thấy đau khi đi lại, vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Ở giai đoạn muộn hơn, đau có thể xuất hiện ngay cả khi ít vận động và cuối cùng người bệnh đau cả lúc nghỉ và vào ban đêm. THK háng thường gây đau vùng bẹn, tuy nhiên vị trí đau cũng khác nhau giữa người này và người khác.

Bệnh nhân thoái hóa khớp háng thường hạn chế đi bộ, cúi, di chuyển, leo cầu thang. Động tác xoay trong khớp háng thường hạn chế và gây đau, kể cả ở giai đoạn sớm. Bệnh nhân thấy khó khăn khi cúi để mang vớ, buộc dây giày, cắt móng chân. Khớp háng có thể biến dạng cứng tư thế gấp hoặc hạn chế vận động nhiều các tư thế chứng tỏ bệnh giai đoạn nặng và thường làm cho chân bên bệnh có thể ngắn hơn do di chuyển của chỏm xương đùi lên trên. Các dấu hiệu lâm sàng quan trọng khác gợi ý thoái hóa khớp háng gồm giảm vận động xoay trong (dưới 15 độ), đau khi xoay trong, cứng khớp buổi sáng dưới 30-60 phút, gấp khớp háng thường hạn chế (dưới 115 độ).

Ở mốt số bệnh nhân có thể mắc bệnh thể thoái hóa khớp háng phá hủy nhanh (Rapidly destructive hip osteoarthritis), gặp chủ yếu là phụ nữ lớn tuổi. Chụp xquang nhiều lần cho thấy tổn thương tiến triển hẹp khe khớp tăng lên trong vòng vài tháng; thường xuất hiện ở một bên. Trên MRI thường thấy tràn dịch và tăng tín hiệu lan tỏa trên T2 ở chỏm xương đùi, cổ và hoăc ổ cối. Tăng nồng độ MMP-3 và MMP-9 huyết tương và tăng tiết các sản phẩm thoái giáng của collagen type 2 trong nước tiểu của những bệnh nhân này so với những nhân thoái hóa khớp tiến triển chậm.

2. Chẩn đoán thoái hóa khớp háng

Trên lâm sàng chẩn đoán bệnh lý THK nói chung thường dựa vào các triệu chứng điển hình, thăm khám, một số xét nghiệm và các dấu hiệu trên chẩn đoán hình ảnh (chủ yếu là x quang). Không có một đặc điểm lâm sàng nào là nhạy hoặc đặc hiệu một cách tuyệt đối. Nói chung, càng nhiều dấu hiệu thì chẩn đoán càng chắc chắn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp háng của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ [1]: Đau khớp háng và ít nhất 2 trong 3 đặc điểm sau:

  • Tốc độ máu lắng dưới 20 mm/h.
  • Gai xương trên x quang (xương đùi hoặc ổ cối).
  • Hẹp khe khớp trên x quang.

Tiêu chuẩn này có độ nhạy 84% và độ đặc hiệu 91%.

Hình 2. X quang thoái hóa khớp háng

THK háng thường có biểu hiện đau vùng bẹn, tuy nhiên nhiều bệnh nhân mô tả chung chung như đau ở đùi, mông, thắt lưng và thậm chí ở khớp gối cùng bên. Do đó điều quan trọng cần đánh giá những nguên nhân khác của đau vùng hông, trong đó có các bệnh lý cột sống, cùng chậu, viêm túi thanh mạc mấu chuyển, bệnh lý khớp gối, đau cách hồi vùng đùi do bệnh lý mạch máu. Cũng cần phân biệt một số bệnh lý tại khớp háng gây đau vùng hông, bẹn như gãy cổ xương đùi, hoại tử chỏm, viêm khớp háng.

 – Một số chẩn đoán phân biệt:

  • Viêm túi thanh mạc mấu chuyển lớn: Là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của đau vùng hông. Đau tăng khi vận động quá mức của gân cơ mông nhỡ và cơ căng mạc đùi phía ngoài đùi. Bệnh nhân thường than đau vùng phía bên ngoài khớp hông. Thám khám thường thấy điểm ấn đau cạnh sau trên mấu chuyển lớn.
  • Đau tê thần kinh đùi bì ngoài (Meralgia paresthetica): khi bị đè ép trên đường đi từ đám rối thần kinh thắt lưng cùng qua ổ bụng, dưới dây chằng bẹn và đi vào vùng tổ chức dưới da của đùi. Triệu chứng có thể gồm tê bì, kiến bò cho đến rát bỏng vùng phía trên ngoài đùi.
  • Hoại tử xương: Còn gọi là hoại tử vô khuẩn chỏm, hoại tử vô mạch chỏm xương đùi. Quá trình thường diễn biến nặng dần, dẫn đến phá hủy khớp trong vòng 3-5 năm nếu không được điều trị. Một số yếu tố liên quan đến chấn thương hoặc không liên quan đến chấn thương có thể là các nguyên nhân của hoại tử xương. Sử dụng corticoid, lạm dụng rượu bia là những yếu tố nguy cơ chiếm khoảng 90% các trường hợp. Đau vùng bẹn là thường gặp, sau đó là đau đùi hoặc đau mông. Trong hầu hết các trường hợp, đau thường liên quan đến vận động khớp và các hoạt động chịu tải. Chẩn đoán sớm hoại tử xương có thể giúp cơ hội ngăn chặn xẹp, tiêu chỏm vàthay khớp. Tuy vậy, hầu hết bệnh nhân đi khám trễ. Vì vậy cần nghi ngờ và lưu ý bệnh lý này ở những đối tượng có nguy cơ cao, chẳng hạn sử dụng corticoid liều cao. Chẩn đoán bệnh có thể dựa vào X quang và hoặc MRI.
  • Gãy xương hông kín đáo (gãy cổ xương đùi không di lệch) có thể khó chẩn đoán. Cần nghi ngờ ở bệnh nhân có đau nhiều vùng trước ngoài hông, đau nhiều khi đứng chịu tải dù chỉ một phần, không chịu được đau khi xoay khớp háng thụ động. X quang thường quy đôi khi có thể thấy bình thường. Bệnh nhân vẫn cần giữ tư thế không chịu tải đối vớikhớp háng cho đến khi loại trừ gãy xương dựa vào MRI, CT hoặc khám đi khám lại nhiều lần.
  • Bệnh lý tắc nghẽn mạch máu chủ chậu: Bệnh nhân có thể có đau vùng mông, háng và trong một số trường hợp đau cách hồi vùng đùi. Đau nhức có thể kèm yếu vùng hông, đùi khi đi lại. Thăm khám thấy giảm, mất mạch vùng bẹn 2 bên. Khám khớp háng và phần mềm thường bình thường.
  • Bệnh lý cột sống thắt lưng và khớp cùng chậu: Có thể có đau lan tới vùng hông đùi.

III. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA THOÁI HÓA KHỚP HÁNG

Nhìn chung việc tiếp cận điều trị THK háng cũng tương tự như điều trị bệnh lý thoái hóa khớp nói chung; đặc biệt có nhiều điểm tương đồng với điều trị thoái hóa khớp gối. THK là nguyên nhân thường gặp của đau khớp và tàn phế, vì vậy việc điều trị THK chủ yếu nhằm làm giảm triệu chứng và ngăn ngừa tàn phế.

Các mục tiêu điều trị THK gồm: Kiểm soát đau khớp, duy trì khả năng đi lại, giảm thiểu tàn phế, cải thiện chất lượng sống và giáo dục bệnh nhân, đồng thời hạn chế tối đa những độc tính, tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra. Cần lưu ý là đau và các triệu chứng khác của THK có thể nhầm lẫn với các bệnh lý phần mềm (như viêm túi thanh mạc cạnh khớp, viêm gân). Do đó bước đầu tiên trong điều trị là phải chắc chắn bệnh nhân đau là do bệnh lý tại khớp tổn thương liên quan đến thoái hóa khớp.

Việc điều trị THK bao gồm sự kết hợp các biện pháp không dùng thuốc, các biện pháp dùng thuốc (thoa, uống, tiêm nội khớp) và can thiệp ngoại khoa, trong đó có thay khớp. Bên cạnh các thuốc kiểm soát triệu chứng, có rất nhiều biện pháp điều trị với mục tiêu “điều trị cơ bản, làm thay đổi bệnh” được nghiên cứu thử nghiệm trong THK, chẳng hạn các thuốc bisphosphonate, ranelate, calcitonin, methotrxate và nhiều chế phẩm khác, tuy nhiên chưa có một biện pháp nào được chứng minh một cách chắc chắn là có thể ngăn chặn hoặc đảo ngược được tổn thương tiến triển phá hủy khớp trong THK.

Điều trị THK cần cá thể hóa, dựa trên kỳ vọng của người bệnh, mức độ hoạt động và hạn chế chức năng, khớp tổn thương, mức độ nặng của bệnh; nhu cầu làm việc, sinh hoạt và những vấn đề y khoa kèm theo.

Các biện pháp điều trị không dùng thuốc

Những can thiệp không dùng thuốc như giáo dục bệnh nhân, tư vấn giảm cân (vai trò của giảm cân trong THK háng kém rõ rệt hơn so với THK gối), các chương trình tập luyện, sử dụng gậy nạng, dụng cụ hỗ trợ đi lại, vật lý trị liệu thường phải được thực hiện trước khi kê toa thuốc. Các biện pháp này nếu hiệu quả có thể góp phần giảm nhu cầu dùng thuốc.

Điều trị thuốc

Các thuốc thường dùng nhất là những thuốc kiểm soát triệu chứng đau. Việc điều trị giảm đau trong THK không bắt buộc ở những giai đoạn mà không có triệu chứng hoặc triệu chứng chỉ rất nhẹ. Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh, có tình trạng viêm kèm theo hay không và hiệu quả của các liệu pháp đã sử dụng trước đó và cơ địa bệnh nhân. Các thuốc chủ yếu được sử dụng gồm:

 – Các thuốc giảm đau (paracetamol đơn thuần hoặc phối hợp với một opiad nhẹ như tramadol hoặc codein);

 – Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs);

 – Các thuốc điều trị tiêm nội khớp (corticoid, hyaluronic acid);

 – Các thuốc giảm triệu chứng tác dụng chậm (SYSADOAs);

 – Một số thuốc khác: Chế phẩm thuốc phiện, duloxetine, capsaicin,…

 1. Một số vấn đề trong sử dụng paracetamol

Hầu hết các hướng dẫn điều trị đều khuyến cáo bắt đầu điều trị giảm đau cho bệnh nhân THK bằng paracetamol (liều dưới 3000 mg/ngày) thường ở giai đoạn sớm, đặc biệt khi triệu chứng đau chỉ ở mức độ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, một số phân tích gộp gần đây cho thấy paracetamol có hiệu quả rất hạn chế trong thoái hóa khớp.

Việc điều trị với paracetamol có thể có hiệu quả hơn một chút so với không dùng thuốc gì trong giảm đau do THK, nhưng kém hiệu quả hơn so với các NSAID. Điều này được chứng minh trong một nghiên cứu phân tích gộp vào năm 2015 từ 10 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với trên 3500 bệnh nhân THK gối và khớp háng; so sánh hiệu quả và tính an toàn của paracetamol (liều 3000-4000 mg/ngày) so với placebo; đã cho thấy hiệu quả của paracetamol có ý nghĩa về mặt thống kê; nhưng sự cải thiện không có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong việc giảm đau và giảm tàn phế (dưới 4 điểm trên thang điểm VAS từ 0-100), trong khi đó bệnh nhân dùng paracetamol  có nguy cơ tăng gấp gần 2 lần về bất thường men gan so với placebo [8].

Sử dụng paracetamol cần lưu ý độc tính trên gan và mặc dù nhìn chung paracetamol khá an toàn trên đường tiêu hóa song cũng có thể gây kích ứng đường tiêu hóa với liều cao. Một nghiên cứu cho thấy việc dùng paracetamol trên 2g/ngày có thể làm tăng nguy cơ trên đường tiêu hóa, kể cả thủng và xuất huyết. Sử dụng paracetamol liều thấp không làm tăng những nguy cơ này.

2. Vai trò của NSAIDs trong THK

Khi bệnh nhân không đáp ứng với paracetamol hoặc mức độ đau từ trung bình đến nặng, các hướng dẫn điều trị đều khuyến cáo chỉ định một thuốc thuốc kháng viêm không steroid chọn lọc hoặc không chọn lọc nếu không có chống chỉ định [6,13,14].

Các NSAID được chứng minh cho thấy có hiệu quả giảm đau tốt trong thoái hóa khớp. Các NSAID cổ điển và coxibs nhìn chung có hiệu quả cao hơn so với placebo và paracetamol trong điều trị THK. Điều này đã được chứng minh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng cũng như các phân tích gộp. Ngoài ra, một số nghiên cứu đã cho thấy thực sự có phản ứng viêm tại chỗ trong khớp thoái hóa vì vậy đây cũng là cơ sở cho hiệu quả cao hơn của các thuốc NSAID so với paracetamol, một thuốc không có hiệu quả kháng viêm.

Hình 3. Phân tích gộp so sánh hiệu quả giảm đau của NSAIDs và paracetamol trong THK.

Nên bắt đầu NSAID liều thấp, sử dụng từng đợt ngắn ngày đối với THK không có viêm và triệu chứng không nặng nề. Nếu không đạt hiệu quả, có thể tăng dần tới liều khuyến cáo cho phép và sử dụng liên tục kéo dài hơn, đặc biệt đối với THK có phản ứng viêm. Nếu một thuốc không hoặc kém hiệu quả sau 2-4 tuần sử dụng, có thể xem xét lựa chọn một thuốc NSAIDs khác.

Bảng 1. Một số thuốc kháng viêm không steroid thường dùng

Mặc dù một số NSAID khi sử dụng ở liều cao cho thấy hiệu quả giảm đau có thể có ưu thế hơn so với các NSAIDs [4]; tuy nhiên việc tăng liều cũng làm tăng nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, tim mạch,… đặc biệt trong điều trị THK. Do vậy, hầu hết các hướng dẫn điều trị khuyến cáo sử dụng NSAID trong THK với liều thấp nhất có hiệu quả và thời gian ngắn nhất có thể.Không có bằng chứng chắc chắn nào chứng minh bất cứ một thuốc NSAID nào có hiệu quả cao hơn một NSAID khác. Hầu như tất cả các thuốc NSAID, kể cả cổ điển hay không chọn lọc (naproxen, ibuprofen, piroxicam, diclofenac) và ức chế chuyên biệt (meloxicam, etodolac) hay ức chế chọn lọc trên COX2 (celecoxib, etoricoxib) đều có hiệu quả trong THK; sự khác biệt là không rõ ràng với liều sử dụng theo khuyến cáo cho THK[11]. Tuy nhiên cần lưu ý, bệnh nhân THK đa phần lớn tuổi, có nhiều lý phối hợp và sử dụng nhiều loại thuốc, do vậy có tăng nguy cơ tác dụng phụ của các thuốc NSAID, đặc biệt trên đường tiêu hóa và tim mạch. Việc lựa chọn thuốc nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (nguy cơ tác dụng phụ, giá cả, đặc điểm THK, lựa chọn của bệnh nhân liên quan số lần sử dụng). Việc lựa chọn thuốc đảm bảo hiệu quả, cân bằng và giảm thiểu các nguy cơ tác dụng phụ trên các cơ quan (đặc biệt trên tiêu hóa và tim mạch) là cần thiết.

Hình 4. Tính chọn lọc tương đối trên COX-2 và COX-1 của các thuốc NSAID

Hình 4. Tính chọn lọc tương đối trên COX-2 và COX-1 của các thuốc NSAID

3. Liệu pháp tiêm thuốc nội khớp

Tiêm corticoid nội khớp (Diprospan, Depo-Medrol) cũng là một biện pháp có hiệu quả giảm triệu chứng cho bệnh nhân THK, đặc biệt trong đợt tiến triển và khi có phản ứng viêm tại chỗ [7]. Liệu pháp tiêm corticoid tại chỗ trong đợt tiến triển được hầu hết các guidelines khuyến cáo chỉ định. Hiệu quả lâm sàng thước thấy rõ trong vòng vài tuần sau tiêm; tuy nhiên hiệu quả về lâu dài thường không rõ ràng; song cũng có thể tiêm nhắc lại khi cần thiết, với khoảng cách nhất định và không nên tiêm quá nhiều lần.

Việc tiêm nội khớp các chế phẩm acid hyaluronic với thoái hóa khớp háng cũng còn có các ý kiến khác nhau. Một số hướng dẫn trên thế giới khuyến cáo có thể xem xét ở giai đoạn II, III của bệnh (theo phân loại của Kellgren và Lawrence). Mặc dù khuyến cáo của liệu pháp này còn chưa rõ ràng, song một số bằng chứng cho thấy việc tiêm acid hyaluronic trong THK háng (dưới hướng dẫn siêu âm) giúp cải thiện triệu chứng kéo dài hàng năm sau tiêm và giảm nhu cầu sử dụng NSAID của bệnh nhân [9].

4. Vai trò của các thuốc giảm triệu chứng tác dụng chậm (Symptomatic Slow-Acting Drugs for OA, SYSADOAs)

Các chế phẩmglucosamin,chondroitin,cao không xà phòng hóa từ trái bơ và đậu nành (Piascledine), diacerein, các chế phẩm hyaluronic acid uống, collagen đường uống được sử dụng khá phổ biến trên thực tế trong điều trị THKdưới dạng thuốc hoặc thực phẩm chức năng. Những sản phẩm này được cho là có thể hỗ trợ tái tạo sụn khớp, làm thay đổi cấu trúc trong THK và giảm triệu chứng tác dụng chậm. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm cho thấy những liệu pháp này có thể có hiệu quả giảm triệu chứng, cải thiện chức nặng và giúp giảm nhu cầu sử dụng NSAID ở bệnh nhân thoái hóa khớp [2,10,12]. Tuy nhiên vai trò chính xác của chúng vẫn chưa thực sự rõ ràng và còn có những tranh cãi. Các hướng dẫn điều trị của thế giới cũng có quan điểm rất khác nhau. Trong khi ở Hoa Kỳ, thường không có khuyến cáo sử dụng, thì Châu Âu khuyến cáo có thể xem xét sử dụng ở giai đoạn sớm những thuốc SYSADOA như glucosamine sulfate (kèm/không kèm chondroitin sulfate), piascledine, diacerein; tuycũng lưu ý về mức độ hạn chế tronghiệu quả của các thuốc này. Các thầy thuốc lâm sàng có thể cân nhắc lựa chọn một trong những thuốc này cho người bệnh bị THK gối hoặc khớp háng và theo dõi đánh giá đáp ứng của bệnh nhân. Nếu thuốc dung nạp tốt và cho thấy có thể có hiệu quả sau 3-6 tháng sử dụng thì xem xét chỉ định kéo dài hơn. Tất nhiên, cần phải lưu ý các khuyến cáo liên quan đến chống chỉ định và thận trọng cho những đối tượng nhất định.

5. Các liệu pháp sinh học và tế bào

Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy liệu pháp tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) nội khớp hoặc tế bào gốc có thể có hiệu quả với thoài hóa khớp [5]; tuy nhiên những phương pháp này trên thực tế vẫn chưa trở thành điệu trị thường quy trong thực hành lâm sàng.

IV. KẾT LUẬN

Để đảm bảo điều trị THK háng một cách có hiệu quả cần lưu ý phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp, bao gồm cả các phương pháp không dùng thuốc, các liệu pháp dùng thuốc và ngoại  khoa khi cần thiết. Trong các nhóm thuốc điều trị triệu chứng do THK, NSAIDs có vai trò quan trọng và được sử dụng phổ biến, tuy nhiên việc sử dụng và lựa chọn các thuốc trong nhóm này cần đảm bảo hiệu quả đồng thời cân bằng và giảm thiểu các nguy cơ tác dụng không mong muốn, đặc biệt trên đường tiêu hóa và trên tim mạch.

Nguyễn Đình Khoa

Khoa Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy

Bình luận

Bình luận


Bài viết cùng chuyên mục

All Rights Reserved thaythuocvietnam.vn 2018 - Design by Dr.Hope