Loading...
Hotline: 0913322944 (HN)

Nghiên cứu xử trí các trường hợp rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/01/2012 đến 31/12/2012

12/03/2018

Tác giả: Lê Hoài Chương

Đơn vị công tác: Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

TÓM TÓM TẮT

Mục tiêu: xác định tỉ lệ rau cài răng lược ở người bệnh rau tiền đạo và nhận xét cách xử trí rau tiền đạo.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu hồi cứu 500 hồ sơ bệnh án sau đẻ được chẩn đoán rau tiền đạo năm 2012 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.

Kết quả: tỉ lệ Rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2012 là 1/711 ca đẻ. 98% các trường hợp rau tiền đạo được phẫu thuật mổ lấy thai. Có 8,4% các trường hợp phải cắt tử cung.

Kết luận: rau tiền đạo là một bệnh lý cấp cứu sản khoa với tỉ lệ phẫu thuật lấy thai cao, đòi hỏi kỹ năng của phẫu thuật viên cao để cầm máu và giảm tai biến cho mẹ và thai.

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Rau tiền đạo là rau bám một phần hay toàn bộ vào đoạn dưới tử cung gây chảy máu vào 3 tháng cuối của thai kỳ, trong chuyển dạ và sau đẻ. Rau tiền đạo là nguyên nhân của 20% các trường hợp chảy máu trước và trong khi đẻ [1]. Tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, tỉ lệ này chiếm từ 1,7% đến 2% từ năm 2008 đến nay. Ngày nay chẩn đoán rau tiền đạo không khó do siêu âm thai phát triển và phổ cập, nhưng thái độ xử trí và tiên lượng lại rất khác nhau tùy thuộc vào tuổi thai, tình trạng chảy máu của mẹ và các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng khác.

Các tai biến do rau tiền đạo gây ra cho mẹ và thai chủ yếu do tình trạng chảy máu cấp dẫn đến thiếu máu, tăng các tai biến truyền máu, tăng các tai biến phẫu thuật. Tỉ lệ tử vong mẹ và thai ngày nay giảm nhiều nhờ việc nâng cao chất lượng quản lý thai nghén và hồi sức cấp cứu. Tỉ lệ cắt tử cung do không cầm được máu và rau cài răng lược còn cao, đặc biệt phẫu thuật trong trường hợp rau cài răng lược rất khó khăn và nhiều biến chứng .

Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng, tỉ lệ và nhận xét cách xử trí rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2012.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán là Rau tiền đạo 01/01/2012 đến 31/12/2012 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương.

2. Phương pháp nghiên cứu

3. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang.

4. Tiến hành: thu thập các biến số nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án như tuổi mẹ, tiền sử sản khoa, tiền sử mổ lấy thai, các can thiệp đối với người bệnh, các tai biến đối với mẹ và thai.

Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS13.0, tính các tỉ lệ phần trăm với các biến định tính và tính giá trị trung bình đối với các biến định lượng. Sử dụng test χ2 (với các biến định tính) và test T (với các biến định lượng) để phân tích số liệu. Kết quả kiểm định được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

1. Đặc điểm của người bệnh

1.1. Tuổi sản phụ

Trong 500 hồ sơ bệnh án, tuổi trung bình của người bệnh là 30,23 + 1,68 tuổi, trong đó lứa tuổi gặp nhiều nhất là 30 – 34 tuổi chiếm 35,2%; mỗi nhóm tuổi trên 35 và nhóm tuổi 24-29 chiếm tỉ lệ 28,8%; người bệnh ít tuổi nhất là 17 tuổi và nhiều tuổi nhất là 46 tuổi. So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Vương Tiến Hòa năm 2002 cho thấy tỉ lệ rau tiền đạo cao nhất tập trung vào lứa tuổi từ 25 đến 39 [3].

1.2. Tiền sử sản khoa

Có 149 người bệnh (chiếm 29,8%) đẻ con so được chẩn đoán rau tiền đạo, trong đó có 88 người bệnh (chiếm 17,6%) tiền sử chưa có thai lần nào, đây là lần đầu tiên có thai và được chẩn đoán rau tiền đạo. Như vậy dù chưa đẻ nhưng số người bệnh có tiền sử nạo hút thai bị rau tiền đạo là 61 người, chiếm 12,2%. Các nghiên cứu của Miler [9] cho thấy tỉ lệ rau cài răng lược ở nhóm có tiền sử phá thai là 33%, còn nghiên cứu của Trần Danh Cường cho thấy 100% bệnh nhân rau cài răng lược có tiền sử phá thai, sảy thai, đẻ non[1].

2. Đặc điểm bánh rau khi đẻ

3.Tiền sử mổ lấy thai liên quan tới rau tiền đạo và rau cài răng lược: Trong nhóm nghiên cứu 500 người bệnh thì có 390 trường hợp khi đẻ được chẩn đoán rau tiền đạo trung tâm, chiếm 78%, 35 trường hợp được chẩn đoán rau cài răng lược, chiếm 7%. Tính trên tổng số đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2012 là 24869 ca đẻ thì tỉ lệ Rau cài răng lược là 1/711 ca đẻ (0,14%), cao hơn kết quả của Miller D.A et al. năm 1997 tại Mỹ là 0,08% [9]. Tỉỷ lệ này cao gấp 3 lần trong cộng đồng là 1/2500, có được kết quả này là do chất lượng quản lý thai nghén tăng cao, người bệnh được chẩn đoán hoặc nghi ngờ bị rau cài răng lược đã được chuyển lên tuyến trung ương nhiều hơn.

Trong số 401 trường hợp rau tiền đạo không có tiền sử mổ lấy thai chỉ có 5 trường hợp rau cài răng lược, trong khi đó có 99 trường hợp rau tiền đạo có tiền sử mổ lấy thai thì có tới 30 trường hợp rau cài răng lược. Số người bệnh được chẩn đoán rau cài răng lược khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có tiền sử mổ lấy thai và nhóm tiền sử không mổ lấy thai. Trong số 35 trường hợp rau cài răng lược có tới 30 trường hợp (85,7%) có sẹo mổ lấy thai cũ, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Coubiere là 53,85% [7]. Nghiên cứu của Đinh Văn Sinh (2010) cho thấy trên những thai phụ rau tiền đạo có sẹo mổ đẻ cũ từ 2 lần trở lên thì nguy cơ mắc rau cài răng lược cao gấp 6,77 lần [4].P< 0,05

Tỉ lệ rau cài răng lược gặp ở 7% tổng số người bệnh rau tiền đạo trong nghiên cứu này cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương Trà trong 5 năm 2007 – 2011 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương là 5,4% [5]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương tỉ lệ này trong 2 năm 1989-1990 là 2,9% và 2 năm 1993-1994 là 6,4% [2]. Như vậy tỉ lệ rau cài răng lược ngày càng tăng cao ở các sản phụ rau tiền đạo, điều này cũng giống nhận xét của một số tác giả trên Thế giới như Laura M.R tổng kết tỉ lệ rau cài răng lược/rau tiền đạo các năm 1952, 1975-1977 và 1985 lần lượt là 0,2%; 4,09% và 10,1% [8].

4. Các can thiệp đối với người bệnh

4.1. Lý do ngừng thai nghén và phương pháp lấy thai

 Có 200 trường hợp ngừng thai nghén vì chảy máu âm đạo, chiếm 40%. Mổ lấy thai chủ động vì đủ tháng hoặc các nguyên nhân khác là 188 trường hợp chiếm 37,6%.

4.2. Can thiệp với tử cung khi mổ

Trong số 35 trường hợp rau cài răng lược thì có 30 trường hợp (85,7%) phải cắt tử cung khi mổ lấy thai hoặc do chảy máu sau đẻ, kết quả giải phẫu bệnh là gai rau bám tới bề mặt thành tử cung, gai rau xuyên vào cơ tử cung hoặc xuyên qua cơ tử cung tới thanh mạc. Tỉ lệ cắt tử cung vì rau cài răng lược trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Lê Thị Hương Trà tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 5 năm 2007-2011 là 76%[ 5]. Đa số những trường hợp này đều được chẩn đoán trước mổ nhờ siêu âm Doppler màu [1], đã có chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, vật lực cho cuộc mổ cũng như tư vấn cho sản phụ và gia đình trước khi phẫu thuật. Có 5 trường hợp bảo tồn được tử cung do gai rau bám tới bề mặt thành tử cung, có khâu cầm máu diện rau bám và thắt động mạch tử cung.

Tổng số cắt tử cung trong 500 trường hợp rau tiền đạo là 42 trường hợp, chiếm 8,4%.

Có 192 trường hợp (38,4%) chỉ cần khâu cầm máu diện rau bám và có tới 148 trường hợp (29,6%) phải thắt động mạch tử cung mới cầm máu được. Ngày nay kĩ thuật được nâng cao, phẫu thuật thắt động mạch tử cung không còn quá khó khăn nên là kĩ thuật được các phẫu thuật viên lựa chọn để cầm máu cho tử cung. Theo Hoàng Vân Yến nghiên cứu về cách xử trí chảy máu trong và sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2008-2009 thì thắt động mạch tử cung được lựa chọn trong 86,9% các trường hợp[6]. Trong năm 2012, tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương, không có trường hợp nào do thắt động mạch tử cung mà bị tổn thương niệu quản.

Có 12 trường hợp (2,4%) phải  cắt tử cung vì chảy máu không cầm được bằng các phương pháp.

5. Các tai biến cho mẹ và thai

5.1. Tai biến cho mẹ

Tai biến gặp nhiều nhất là chảy máu, có 43 trường hợp phải truyền máu, chiếm 8,6% các trường hợp rau tiền đạo. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây. Theo Nguyễn Đức Hinh, tỉ lệ truyền máu trong khi mổ lấy thai của sản phụ bị rau tiền đạo là 31,4% (1989-1990) và 25,5% (1993-1994) [2], theo Vương Tiến Hòa tỉ lệ này là 10,3% [3]. Số đơn vị máu truyền trung bình là 0,69 đơn vị, thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Đức Hinh là 1,4 đơn vị  (1989-1990) và 1,6 đơn vị (1993-1994) [2], theo Vương Tiến Hòa là 2,12 đơn vị [3]; Trường hợp truyền máu nhiều nhất là 23 đơn vị ở người bệnh thai 29 tuần- Rau tiền đạo trung tâm- rau cài răng lược – mổ đẻ cũ 2 lần.Không có trường hợp nào tử vong vì rau tiền đạo tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2012.

Có 10 trường hợp tổn thương bàng quang do rau cài răng lược ăn vào bàng quang và sẹo mổ đẻ cũ.

5.2. Tình trạng con

 III. KẾT LUẬN

Có 15 trường hợp con chết (chiếm 3%) do đình chỉ thai nghén cứu mẹ, con non tháng. Có 390 trường hợp (78%) giữ được thai đến đủ tháng và có khả năng sống bình thường.

  1. Tỉ lệ Rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2012  là 1/711 ca đẻ (0,15%).
  2. Cách xử trí rau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2012: 98% các trường hợp rau tiền đạo được phẫu thuật mổ lấy thai; Xử trí cầm máu tử cung khi phẫu thuật: 38,4% khâu cầm máu diện rau bám; 29,6% thắt động mạch tử cung; 8,4% cắt tử cung.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Danh Cường (2011), “Chẩn đoán rau cài răng lược bằng siêu âm Doppler màu”, Hội nghị Sản phụ khoa Việt- Pháp năm 2011, chuyên đề chẩn đoán trước sinh- sơ sinh, tr.119-124.
  2. Nguyễn Đức Hinh (1999). “So sánh mổ lấy thai vì rau tiền đạo ở 2 giai đoạn 1989-1990 và 1993-1994 tại viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh”, Tạp chí thông tin y dược, Số đặc biệt chuyên đề Sản phụ khoa (12/1999), tr.107-111.
  3. Vương Tiến Hòa (2003), “Xử trí rau tiền đạo tại bệnh viện Phụ Sản trung ương 2 năm 2001-2003”, Tạp chí phụ sản tập 3, tháng 12 năm 2003, tr.15-18.
  4. Đinh Văn Sinh (2010), “Nhận xét chẩn đoán và thái độ xử trí rau tiền đạo ở thai phụ có sẹo mổ tử cung tại Bệnh viện Phụ Sản trung ương trong 2 năm 2008-2009”- Luận văn thạc sỹ y học- Đại học y Hà Nội.
  5. Lê Thị Hương Trà (2012), “Nghiên cứu về rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại bệnh viện Phụ Sản trung ương trong 5 năm 2007-2011”, Luận văn thạc sĩ y học, tr.31.
  6. Hoàng Vân Yến (2010), “Nghiên cứu về nguyên nhân, cách xử trí các trường  hợp chảy máu trong và sau mổ lấy thai tại bệnh viện Phụ Sản trung ương 2 giai đoạn 1998-1999 và 2008-2009”, Luận văn thạc sĩ y học, tr.44.
  7. Courbier B, et al. (2003), “Conservative treatement of placenta accreta”, J Gynecol Obstet Biol Reprod (Paris), Oct; 32(6), p. 549-554.
  8. Laura M.R., Cotton D.B (1997), “Modern management of placenta previa and placenta accreta”, Sciarra Gynecology and Obstetrics, Revised edition, 49(2), p.1-11.

Miller D.A, Chollet J.A and Goodwin T.M (1997), “Clinical risk factor of previa placenta accreta”, Am J. Obstet Gynecol, July, 177(1), p.210-4.

 SUMMARY

TREATMENT OF PLACENTA PREVIA IN NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY FROM 01 JANUARY TO 31 DECEMBER 2012.

Objectives: determine the rate of placenta previa- accreta and remark the treatment for placenta previa.

Methods: retrospective study of 500 medical records of placenta previa in 2012.

Results:  the rate of placenta previa- accreta in National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2012 is 1/711 deliveries. Cesarean in 98% cases of placenta previa. Hysterectomie in 8,4% cases of placenta previa.

Conclusion: Plancenta previa is a obstetrical emergency including high rate of cesarean, requesting high technique of surgeon to reduce complications for mother and newborn.

(Trích đăng Tạp chí Y học lâm sàng số 70)

Bình luận

Bình luận


Bài viết cùng chuyên mục

All Rights Reserved thaythuocvietnam.vn 2018 - Design by Dr.Hope