Tìm hiểu bệnh động kinh cùng TS BS Lê Văn Tuấn

04/07/2018

Khoảng 1% dân số thế giới (65 triệu người) mắc bệnh động kinh và gần 80% các trường hợp bị động kinh xảy ra ở các nước đang phát triển. Trong năm 2013 nó dẫn đến 116.000 ca tử vong so với 111.000 ca tử vong trong năm 1990. Vậy động kinh là bệnh gì và do nguyên nhân gì gây nên?

⇒ Phẫu thuật lấy bỏ vùng gây động kinh bằng đường mở nắp sọ

Điều trị trạng thái động kinh

Bệnh động kinh là gì? 

Cơn  động  kinh  được  định  nghĩa  là tình trạng bệnh lý của não, đặc trưng bởi  sự  phóng  lực  quá  mức,  đồng bộ và nhất thời của một nhóm các neuron  trong  não;  biểu  hiện  bằng các triệu chứng tương ứng với vùng não bị kích thích.

Chứng động kinh được biểu hiện bởi các cơn động kinh tái phát. Thông thường, một người được chẩn đoán  là  động  kinh  khi  có  ít nhất từ hai cơn động kinh  trở lên, nếu họ chỉ có một cơn duy nhất thì chưa thể gọi là động kinh.

Động kinh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, chiếm tỷ lệ  khoảng  1%  dân số

Động kinh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, chiếm tỷ lệ  khoảng  1%  dân số. Khoảng 50% những trường hợp động kinh mới xảy ra ở trẻ nhỏ và thiếu niên, với tỷ lệ cao nhất trong vài tháng đầu sau sinh. Nhiều người bị động kinh ở tuổi nhỏ và thiếu niên, sau đó các cơn động kinh có thể giảm khi họ đến tuổi trưởng thành. Tỷ lệ động kinh cũng tăng ở người lớn tuổi.

Một số nguyên nhân khác có  thể gây ra các cơn động kinh như: sốt cao co giật ở trẻ rất nhỏ, bệnh nhân ngưng một số thuốc đang dùng, ngộ độc, phản ứng dị ứng, nhiễm trùng, rối loạn điện giải, hạ đường huyết… Những nguyên nhân này chỉ nhất thời và không được xem là động kinh.

Một số bệnh lý như tai biến mạch máu não hay đau nửa đầu migraine có thể nhầm lẫn với động kinh do các triệu chứng có thể giống động kinh như tê, yếu nửa người, các triệu chứng thị giác như nhìn mờ, mù tạm thời…

Biểu hiện của các cơn động kinh

Tùy vào loại động kinh mà bác sĩ sẽ kê đơn thuốc cho bệnh nhân, vì vậy, quan trọng nhất là phải phân biệt được cơn động kinh thuộc loại nào. Có 3 loại cơn động kinh: cơn động kinh cục bộ, cơn động kinh toàn thể và cơn động kinh không phân loại được là cục bộ hay toàn thể.

Biểu hiện của các cơn động kinh

Biểu hiện của các cơn động kinh

Các cơn động kinh cục bộ

Các cơn động kinh cục bộ xảy ra khi có quá nhiều hoạt động điện khu trú ở một vùng trong não. Hai dạng cơn động kinh cục bộ thường gặp nhất là cơn cục bộ đơn giản và cơn cục bộ phức tạp.

  • Cơn động kinh cục bộ đơn giản: người bệnh có thể có cảm giác lạ, khó mô tả hay bất thường, chẳng hạn như co giật một phần của cơ thể, thị giác hay khứu giác bất thường, cảm giác lo lắng hay sợ sệt, khó chịu ở vùng dạ dày, chóng mặt…
  • Cơn động kinh cục bộ phức tạp: người bệnh không biết được cơn động kinh đang xảy ra,  trông  họ rất lú lẫn, có thể có các hành vi vô nghĩa như đi qua đi lại, xoay đầu, xoa tay. Họ không thể  nhớ  được các hành vi này sau cơn động kinh.

Các  cơn  động  kinh  toàn  thể

 

Các cơn động kinh toàn thể xảy ra khi  hoạt  động  điện  trong  não  quá nhiều ảnh hưởng đến toàn bộ não. Có  hai  dạng  cơn  toàn  thể  thường gặp nhất là cơn vắng ý thức và cơn co cứng – co giật toàn thể.

Cơn vắng ý thức: người bệnh nhìn chằm chằm, mắt có thể đảo lên trên. Được biểu hiện bởi tình trạng mất ý thức trong khoảng 5 – 15 giây và khi cơn động kinh chấm dứt thì người bệnh không còn nhớ những gì  đã xảy Cơn vắng ý thức thường xảy ra ở trẻ em và biến mất ở tuổi thiếu niên. Tình trạng này hiếm khi gặp ở người lớn.

Người bệnh thường phát ra tiếng kêu ngắn, mất ý thức và ngã xuống sàn

Người bệnh thường phát ra tiếng kêu ngắn, mất ý thức và ngã xuống sàn

Cơn co cứng – co giật toàn thể: người bệnh thường phát ra tiếng kêu ngắn, mất ý thức và ngã xuống sàn (tiếng kêu này không phải do đau). Các cơ sẽ co cứng và tay chân sẽ co giật.  Người  bệnh  có  thể  bị  đái  dầm.

Biểu hiện của người bệnh sau cơn động kinh

Sau cơn động kinh, người bệnh có thể tỉnh lại ngay hoặc có thể  cảm thấy mệt mỏi, lú lẫn hay rối loạn định hướng, kéo dài trong vài  phút,  vài giờ hoặc thậm chí vài ngày, người bệnh mới từ từ tỉnh lại.

Thế nào là trạng thái động kinh

Nếu cơn động kinh kéo dài hơn 5 phút hay có nhiều cơn động kinh liên tiếp và người bệnh không hồi phục đầy đủ giữa các cơn động kinh thì được gọi là trạng thái động kinh.  Đây  là  một  tình  huống  cấp cứu, cần được xử trí ngay nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng hoặc để lại di chứng lâu dài.

Nguyên nhân của động kinh

Khoảng 60% các trường hợp không biết được nguyên nhân của động kinh mặc dù người bệnh đã  được làm các xét nghiệm, chụp hình não (chụp cắt lớp hay chụp cộng hưởng từ). Những trường hợp này được gọi là động kinh vô căn. Các trường hợp còn lại có thể do các nguyên nhân cụ thể như: tổn thương não của thai nhi, chấn thương lúc sinh (do thiếu oxygen), ngộ độc, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, chấn thương đầu, u não, tai biến mạch máu não… Đa số động kinh không có tính di truyền. Tuy nhiên, một số người bệnh bị động kinh có khuynh hướng di truyền.

Chẩn đoán động kinh

Chẩn đoán dựa vào kết quả thăm hỏi bệnh sử cẩn thận, khám thần kinh và làm một số xét nghiệm, chụp hình để chẩn đoán. Khi hỏi bệnh sử, người thầy thuốc sẽ hỏi: cơn động kinh thường bắt đầu khi nào, mô tả chi tiết những biến cố khi cơn động kinh xảy ra, tiền căn sức khỏe của người bệnh và gia đình.

Các xét nghiệm chẩn đoán

  • Chụp cắt lớp (CT–scan): cho thông tin chi tiết về cấu trúc bình thường của não, những bất thường cấu trúc như máu tụ, nang, u, mô sẹo… liên quan đến động kinh. Phương pháp này dễ làm, an toàn và không đau.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI): ngoài thông tin nhận được như chụp CT scan, MRI não còn nhận biết những bất thường mà CT có thể bỏ sót như các dị dạng bẩm sinh, những tổn thương xơ cứng thùy thái dương… Dù an toàn và  không  đau,  nhưng kỹ thuật này đắt tiền hơn CT và thời gian chụp cũng lâu hơn. Không áp dụng chụp MRI cho những người bệnh có mảnh dị vật kim loại trong cơ thể hoặc mang máy tạo nhịp.
  • Đo điện não đồ:  giúp nhận  biết được hoạt động điện bất thường trong não dẫn đến cơn động Ngoài ra, phương pháp này cũng có thể giúp nhận biết vị trí, độ nặng và loại cơn động kinh. Đây là kỹ thuật an toàn và không đau.

Phương pháp điều trị động kinh

Dùng thuốc chống động kinh

Có nhiều loại thuốc chống động kinh và việc chọn lựa thuốc tùy thuộc vào nhiều yếu tố như loại cơn động kinh, nguyên nhân, tuổi, giới tính, tình trạng bệnh lý đi kèm… Việc chọn lựa thuốc, liều dùng và cách dùng sẽ do bác sĩ chỉ định, người bệnh không nên tự ý mua thuốc và điều trị.

Khi điều trị với thuốc chống động kinh, có các khả năng sẽ xảy ra: 50% người bệnh sẽ không còn cơn động kinh; 30% còn cơn nhưng nhẹ hơn và thưa hơn; 20% không đáp ứng với thuốc. Nếu chọn lựa thuốc dùng không thích hợp, tỷ lệ không đáp ứng sẽ cao hơn.

Một số phương pháp điều trị khác (chưa áp dụng tại Việt nam)

  • Phẫu thuật chữa động kinh: cắt bỏ vùng não gây ra động kinh, hoặc thực hiện các đường cắt sâu ở não làm gián đoạn các xung lực của động
  • Phương pháp đặt máy kích thích dây thần kinh X: có thể có hiệu quả trong một số trường hợp động kinh kháng trị với thuốc.
  • Chế độ ăn sinh ceton: ăn theo thực đơn chọn sẵn với nhiều mỡ, ít chất bột và đạm. Phương pháp này thường được áp dụng ở trẻ em từ 1 – 8 tuổi.

Cách xử trí khi người bệnh bị co giật 

  • Giữ bình tĩnh khi xử trí.
  • Tránh chấn thương có thể xảy ra với người bệnh do co giật: để người bệnh tránh xa lửa, vật nhọn, hay chỗ dễ té.
  • Ghi lại khoảng thời gian bị co giật.
  • Khi hết co giật, để người bệnh nằm nghiêng một bên nhằm tránh nguy cơ tắc đường thở do dị vật như răng giả, đàm nhớt, chất ói từ dạ dày.
  • Sau cơn co giật người bệnh thường mất ý thức, cần ở cạnh người bệnh cho đến khi họ tỉnh hẳn.
  • Không nên để bất cứ vật gì như khăn, muỗng, vắt chanh… vào miệng người bệnh.
  • Không giữ chặt người bệnh khi họ đang co giật.

Sống với động kinh

Người bị động kinh có thể gặp một số vấn đề về tâm lý và xã hội. Họ thường được chăm sóc quá kỹ hay bị những hạn chế không cần thiết trong  sinh  hoạt  hàng  ngày.  Ngoài ra, họ còn có thể còn gặp một số vấn đề cá nhân khác như sự giận dữ,  chán  nản  và  trầm  cảm.  Tuy nhiên, nếu được chăm sóc và điều trị tốt, nhiều người bệnh vẫn có thể có  cuộc  sống,  sinh  hoạt  và  công việc như bình thường.

TS BS Lê Văn Tuấn – Trưởng bộ môn Thần kinh – Đại học Y Dược TPHCM

Trích Tạp chí “Sống khỏe” số 03 – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Biến chứng của viêm não Nhật Bản 

Điều trị viêm não Nhật Bản 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *