Bệnh tim bẩm sinh phòng hơn chữa
(07:59 | 26/06/2015)
  - Tim bẩm sinh là dị tật tim về mặt cấu trúc và chức năng tồn tại từ khi trẻ ra đời. Bệnh tim bẩm sinh là một trong những dị tật hay gặp nhất trong các dị tật bẩm sinh. Theo ước tính cứ 1000 trẻ ra đời thì có 8 – 10 trẻ bị mắc dị tật bẩm sinh. Dị tật bẩm sinh được chia làm 2 loại: tim bẩm sinh có tím, còn gọi là tim bẩm sinh tím sớm và tim bẩm sinh không tím (hay tim bẩm sinh tím muộn).

Lời khuyên giúp phòng bệnh tim

Mối liên hệ của thuốc lá với bệnh tim

Dùng thuốc viên từ cà chua hàng ngày giúp giảm đau tim

Bệnh gan có thể làm tăng nguy cơ các rối loạn tim 

Phát hiện sớm tránh nguy cơ

Những trẻ nghi ngờ mắc tim bẩm sinh không tím thường biểu hiện các triệu chứng của suy tim ứ huyết: chậm tăng cân, bú kém (trẻ thường vã mồ hôi khi ăn, bú hơi ngắn, phải nghỉ giữa chừng để thở), thở nhanh, bị mắc tái phát các đợt nhiễm trùng  hô hấp, đáp ứng chậm với điều trị. Các triệu chứng nêu trên có thể không biểu hiện ngay lúc trẻ mới sinh ra nhưng dần sẽ xuất hiện trong thời gian ngắn từ vài tuần đến vài tháng sau đó khi sức cản hệ mạch máu phổi dần giảm xuống.

Ảnh chỉ mang tính chất minh hoạ

Chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng. Khám lâm sàng có thể phát hiện tiếng thổi tại tim. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp trẻ có tiếng thổi cơ năng tại tim nhưng cấu trúc và chức năng tim hoàn toàn bình thường. Ngược lại có những trẻ nghe tim hầu như không thấy dấu hiệu bất thường nhưng lại phát hiện ra các dị tật bẩm sinh khi làm các thăm dò cận lâm sàng. Bắt mạch và so sánh mạch đùi và mạch cánh tay cùng lúc là một thao tác khám đơn giản nhưng mang lại thông tin. Mạch đùi có thể yếu hoặc không bắt được khi so với mạch cánh tay trong trường hợp trẻ nghi ngờ có hẹp eo động mạch chủ. Siêu âm Doppler tim được coi là phương pháp cận lâm sàng có giá trị nhất trong chẩn đoán các dị tật tim bẩm sinh, vừa đảm bảo tính không xâm lấn, không gây hại cho trẻ và có thể thực hiện lặp lại nhiều lần phục vụ cho theo dõi tiến triển bệnh và định hướng điều trị.

Phòng bệnh cho con khi mang thai

Những bà mẹ có nguy cơ cao sinh con mắc bệnh tim bẩm sinh bao gồm: mẹ bị mắc đái tháo đường, tiền sử gia đình mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc sử dụng các thuốc có thể gây dị tật bẩm sinh ở con như indomethacin, thalidomide. Ngoài ra nếu trong 3 tháng đầu thai kỳ mẹ bị mắc cúm hoặc rubella thì khả năng sinh con bị dị tật còn ống động mạch hoặc phổi cao hơn so với các mẹ không bị mắc các chứng bệnh nêu trên. Vì vậy đối với phụ nữ có kế hoạch sinh con nên được tư vấn tiêm phòng đầy đủ cúm, rubella ít nhất 3 tháng trước khi có thai.

Điều trị tốt các bệnh lý mãn tính từ trước khi mang thai, thận trọng với các thuốc, thực phẩm sử dụng trong quá trình mang thai. Nên được tư vấn sàng lọc di truyền trước khi mang thai trong trường hợp tiền sử gia đình mắc tim bẩm sinh.

Chăm sóc trẻ tại nhà

Chậm tăng cân là vấn đề hay gặp nhất ở các trẻ bị dị tật tim bẩm sinh không tím. Chậm tăng cân do trẻ phải tiêu thụ nhiều calo hơn so với trẻ không bị bệnh tim. Ngoài ra trẻ ăn kém hơn và hay bị các đợt nhiễm trùng hô hấp tái phát cũng gây cản trở đến quá trình tăng cân của trẻ. Để giải quyết vấn đề này, bà mẹ và gia đình cần đảm bảo cho trẻ dinh dưỡng đầy đủ tốt nhất là sữa mẹ hoặc phối hợp các loại sữa công thức giàu năng lượng, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày đảm bảo nhu cầu năng lượng 140-200kcal/kg/ngày.

Lên lịch định kỳ cho trẻ tới khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để được đánh giá về vấn đề suy tim và các vấn đề khác nếu có. Cho trẻ tiêm chủng đầy đủ các mũi theo lịch: vari-cella, sởi, quai bị, rubella tiêm khi trẻ 12 tháng, phế cầu khi trẻ  2 tuổi, tiêm cúm hàng năm kể từ khi trên 6 tháng tuổi. Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cho trẻ bằng cách giữ gìn vệ sinh thân thể, giữ ấm và dùng kháng sinh cho các thủ thuật được chỉ định theo tư vấn của nhân viên y tế.

Khi nào trẻ cần phẫu thuật

Trẻ bị tim bẩm sinh nếu được phẫu thuật can thiệp triệt để nhóm bệnh này thường khỏi hoàn toàn. Sau thời gian theo dõi sau phẫu thuật, can thiệp sẽ trở về cuộc sống bình thường như mọi trẻ khác.

Người nhà cần lưu ý tránh cho trẻ bị nhiễm trùng đường hô hấp, da niêm mạc, răng, tai mũi họng. Nên đưa trẻ đi khám định kỳ tại các cơ sở chuyên khoa.

Các trường hợp chưa phẫu thuật được triệt để (hẹp van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, bít rò động mạch vành…) cần thăm khám thường xuyên và tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Ngoài ra gia đình cần lưu ý là trong nhóm bệnh tim bẩm sinh này có một tỉ lệ trẻ mắc bệnh có thể tự khỏi không cần điều trị. Ví dụ như thông liên thất lỗ nhỏ có khả năng tự đóng lên đến 75% trong năm đầu tiên cho đến khi trẻ 10 tuổi (theo nghiên cứu của Clevelan Clinic, USA). Chính vì vậy rất cần thiết cho sự tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa trước khi quyết định phương hướng điều trị cho trẻ.

Trong trường hợp trẻ phải phẫu thuật tim, thì hiện tại có 2 phương pháp điều trị được áp dụng là can thiệp nội soi và phẫu thuật. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào đặc điểm hình thái dị tật tim và khả năng chuyên môn của các trung tâm chuyên tim mạch.

Các trường hợp dị tật bẩm sinh là các lỗ thông có đặc điểm không phù hợp để bít ,  bằng dụng cụ sẽ được tiến hành phẫu thuật vá lỗ thông. Trường hợp trẻ không có biểu hiện triệu chứng hoặc các triệu chứng có thể được kiểm soát bằng dùng thuốc, thời điểm phẫu thuật có thể trì hoãn khi trẻ được 1-2 tuổi. Những trường hợp trẻ có lỗ thông lớn, có biểu hiện tăng áp động mạch phổi nặng, không kiểm soát được bằng điều trị nội khoa, thời điểm phẫu thuật nên thực hiện càng sớm càng tốt trong khoảng 3-6 tháng tuổi. Các trường hợp tổn thương tắc nghẽn như hẹp chủ, hẹp phổi không phải tại van, phẫu thuật là phương pháp điều trị được chọn lựa.

TS.BS. Nguyễn Lân Hiếu

Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội

Theo Tri thức sức khoẻ số 1

Gửi Bình Luận Của Bạn Kiểu Gõ: Tắt Telex VNI
Họ tên
Email
Địa chỉ
file gửi:
Mã an toàn  
 

   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác