Bài thuốc điều trị viêm mũi dị ứng bằng sâm linh, bạch truật tán

Bài thuốc “Sâm linh bạch truật tán” trị viêm mũi dị ứng là bài cổ phương có xuất xứ từ đời nhà Tống (960 – 1279) Trung Quốc (từ bài tứ quân tử thang gia giảm) . Thành phần gồm có: nhân sâm 12g, sa nhân 6g, bạch linh 12g, ý dĩ 6g, bạch truật (sao cám) 12g, hạt sen (sao vàng) 6g, bạch biển đậu (sao vàng) 9g, cát cánh (chích mật) 6g, hoài sơn (sao vàng với cám) 12g, cam thảo (chích mật) 12g.

Hãy cùng phân tích bài thuốc chữa viêm mũi dị ứng tại bài viết dưới đây!

1. Viêm mũi dị ứng theo Y học cổ truyền

1.1 Khái niệm

Theo quan niệm của Đông y thì mũi là khiếu của Phế (phổi), là cửa ngõ giao lưu giữa Phế với môi trường bên ngoài. Mũi để thở và ngửi thông qua tác dụng của Phế khí. Phế khí bình thường thì sự hô hấp điều hòa; Phế khí bị trở ngại thì gây ngạt mũi, chảy nước mũi, không ngửi thấy mùi…

1.2 Biểu hiện

Viêm mũi dị ứng thuộc chứng Tỵ thất của y học cổ truyền. Biểu hiện chủ yếu bằng triệu chứng ngạt mũi lâu ngày có những thời gian đỡ xen kẽ, hai bên mũi thay nhau tắc. Khi bệnh nặng mũi có thể bị tắc liên miên không dứt. Niêm mạc mũi sưng nề, khứu giác có thể giảm hoặc mất.

1.3 Nguyên nhân

Nguyên nhân gây viêm mũi dị ứng theo Đông y là do Phế khí không đủ mạnh, khi các tác nhân bất lợi xâm nhập vào cơ thể Phế khí không ngăn cản được tạo cơ hội cho các tác nhân xấu ứ đọng ở mũi. Hoặc do lao động quá sức tổn thương Tỳ Vị ảnh hưởng đến chức năng thăng thanh giáng trọc qua đó thấp trọc với đọng tại mũi. Ở những người suy nhược, sức đề kháng của cơ thể không thể thắng lại được các tác nhân gây hại bên ngoài. Khiến cho kinh lạc bị bít tắc khiến cho hiện tượng tắc mũi trở nên nghiêm trọng.

2. Bài thuốc chữa viêm mũi dị ứng bằng sâm linh, bạch truật tán.

2.1 Thành phần

Bạch biển đậu 750gLiên nhục500g
Nhân sâm1000gCát cánh500g
Bạch truật1000gÝ dĩ500g
Bạch linh1000gSa nhân500g
Cam thảo1000gHoài sơn1000g

2.2 Cách dùng

Tán nhỏ thành bột, mỗi lần dùng từ 6g, uống với nước táo. Trẻ em thì tùy theo tuổi mà gia giảm. Hiện nay làm thang sắc nước uống, lượng dùng tính theo tỷ lệ bài gốc mà gia giảm.

Bài thuốc sâm linh, bach truật tán trị viêm mũi dị ứng
Ảnh minh họa: Bài thuốc sâm linh, bach truật tán trị viêm mũi dị ứng 

2.3 Công dụng

Ích khí kiện tỳ, thẩm thấp chỉ tả.

2.4 Chủ trị

Tỳ vị hư nhược, ăn ít, đại tiện lỏng, hoặc thổ, hoặc tả, tay chân yếu.

Người gầy, bụng ngực căng, buồn bực, sắc mặt vàng, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi hồng nhạt, mạch tế hoãn hoặc hư hoãn.

2.5 Phân tích bài thuốc

Trong phương này chủ dược là Tứ quân bình bổ tỳ vị khí. Phối ngũ với Biển đậu, Ý Dĩ Nhân, Sơn dược cam nhạt; Liên nhục cam sáp, phụ giúp Bạch truật vừa có thể kiện tỳ, lại có thể thẩm thấp mà chỉ tả. Thêm cái cay ôn, thơm hương của Sa nhân phụ tá cho Tứ quân thúc đẩy sự vận hóa của trung châu, làm cho khí cơ trên thông dưới chỉ được tả. Cát cánh dẫn thuốc vào kinh thủ thái âm phế, tới được thượng tiêu để ích phế. Các vị thuốc này phối ngũ với nhau có tác dụng bổ hư, trừ thấp, hành trệ, điều khí, hòa cả tỳ lẫn vị, ắt mọi chứng đều hết.

Lý giải

Sâm linh bạch truật tán chính là trên cơ sở của bài tứ quân tử thang thêm hoài sơn, biển đậu, liên tử, ý dĩ nhân, sa nhân, cát cánh mà thành, cũng là 1 phương tễ điều bổ tỳ vị. Do tỳ vị khí hư, và tương đồng với chứng của tứ quân tử thang.Nhưng nó còn điều trị tông khí hư do tỳ khí hư gây ra, không những khí đoản mà hung quản trướng muộn.

Ngoài điều đó, còn điều trị khái thấu khí hư đàm nhiều hoặc là do khí hư, công năng vận hóa thủy cốc của tỳ không mạnh mang có đàm, lại bị ngoại cảm, khái thấu thêm nặng có thể dùng. Nên chỉ cần nắm rõ thì có thể từ bản phương gia giảm để tiến hành điều trị. Sơn dược ngoài bổ tỳ khí ra, còn có thể cố sáp tỳ tân, còn có thể tự dưỡng tỳ âm, nhưng nó đầu tiên là bổ tỳ khí. Nó và Bạch truật khác biệt là Bạch truật có thể ích khí kiện tỳ, Hoài sơn có thể tự dưỡng tỳ âm. Nên trong phương không chỉ dùng đến biển đậu còn có Hoài sơn, đồng thời còn có Ý dĩ nhân. Chủ yếu là trên cơ sở bổ tỳ khí, thông điều thủy đạo, khứ thấp.

Ngoài ra trong phương còn có liên tử, liên tử chủ yếu là bổ tỳ, bổ tỳ dưỡng tâm, lại có thể chỉ tả, lại có thể điều trị tâm hoảng do tỳ khí hư dẫn đến tâm khí bất túc tạo thành. Ngoài ra, liên tử còn có thể sáp tinh, qua bổ tâm còn có thể giao thông tâm thận. Trung tiêu hư hàn nặng thì dùng đậu khấu nhân, nhẹ dùng sa nhân, kiện vị đơn thuần dùng sa nhân, thấp trọc khốn trung tiêu dùng đậu khấu nhân.

Ngoài ra bản phương còn có đặc điểm chính là phối ngũ cát cánh. Từ chứng trạng biểu hiện để thấy, có tâm quý, có khái thấu, có đàm, từ chứng trạng đơn giản để lý giải, vì cát cánh mang thuốc đi lên, có thể khai phế khí , khứ đàm chỉ khái. Từ vấn đề từng bước khai ủng cũng có lý dùng cát cánh, còn lý giải được vấn đề quan hệ tương sinh của khí tỳ phế và thông điều thủy đạo. Chính vì vậy phối ngũ cát cánh mới có thể khiến tinh vi của thủy cốc đi lên phế, khiến tỳ khí dễ đi lên phế. Phế khí bắt nguồn ở tỳ, qua tỳ lên phế xong, phế khí có thể thăng thì có thể giáng, ý ở đây là phế khí vốn đã bất túc, nhưng làm phế khí được sung thực, sau khi công năng của nó đề cao, thì có thể thăng, cũng có thể giáng. Giáng thì có thể thông điều thủy đạo, xuống bàng quang, còn có lợi cho khứ thấp, qua khứ thấp lại có lợi cho kiện tỳ.

Cần từ góc độ này lý giải cát cánh, đây là xoay mấy chỗ ngoặt, nhưng ý nghĩa phối ngũ cát cánh chính là vậy. Ví dụ, qua điều trị hiện nay thì có thể biết. Ví dụ, viêm thận mạn tính, chứng trạng đỡ rồi, nhưng protein trong nước tiểu trừ không hết, còn 1 (+) hoặc có vi lượng, nhưng chứng trạng lại không còn, trên thực tế chứng trạng vẫn còn, chỉ là chứng trạng tỳ hư nhẹ thôi, mà hiện tượng khí hư mệt mỏi vẫn còn. Lúc này có thể dùng sâm linh bạch truật tán để củng cố hiệu quả điều trị viêm thận, để từng bước trừ protein niệu. Đây là 1 chỗ dùng mới của sâm linh bạch truật tán. Đây cũng là Đông tây y kết hợp, từ lý luận đến hiệu quả lâm sàng, mà không phải dập khuôn.

Kết luận

Ngoài ra, bài thuốc sâm linh bạch truật tán thường là một phương pháp bổ thổ sinh kim, là dùng phương pháp kiện tỳ ích phế. Tỳ khí cũng hư mà lấy phế khí hư là chủ, dùng phương tễ này điều trị. Còn một là giãn phế quản cũng thường dùng phương tễ này. Ho, nhiều đờm, xuất huyết của giãn phế quản cũng dùng phương tễ này gia giảm. Đạo lý phối ngũ tạo thành phương tễ qua điều trị bệnh này để từng bước chứng thực.

Về lục thần thang (tán) vừa mới đề cập. nó là hai phương tễ. Một phương tễ là tứ quân tử thang thêm hoài sơn và biển đậu, còn một phương tễ dùng tứ quân tử thang thêm hoàng kỳ và biển đậu, đều là điều trị trẻ em tỳ vị hư nhược, tiêu hóa không tốt, có thể thấy trẻ gầy còm, chủ yếu thấy đại tiện nát hoặc phát nhiệt ra mồ hôi, đặc biệt là phát nhiệt tự hãn, dùng lục thần tán chứa Hoàng kỳ tốt hơn. Phương tễ này cũng là trên cơ sở tứ quân tử thang thêm vào. Tứ quân tử thang biến thánh lục thần thang, lục thần thang biến thành sâm linh bạch truật tán.

Theo Thầy thuốc Việt Nam sưu tầm – tổng hợp

Tìm kiếm bác sĩ tư vấn trực tiếp

Để lại bình luận hoặc câu hỏi của bạn

Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận