Bệnh vảy nến – nguyên nhân và triệu chứng thường gặp

28/08/2021

Bệnh vảy nến biểu hiện chủ yếu ở da, khớp với nhiều triệu chứng lâm sàng và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Hiểu rõ về nguyên nhân và triệu chứng thường gặp của bệnh vảy nến giúp người phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời. Điều này có ý nghĩa to lớn với không chỉ sức khỏe của người mắc mà còn giúp làm giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. 

1. Bệnh vảy nến là gì?

Bệnh vảy nến ảnh hưởng đến mọi người ở những lứa tuổi khác nhau và tất cả các quốc gia. Tỷ lệ mắc bệnh vảy nến được báo cáo ở các quốc gia dao động trong khoảng 0,09% đến 11,43%, khiến căn bệnh trở thành một vấn đề toàn cầu nghiêm trọng với ít nhất 100 triệu người bị ảnh hưởng trên thế giới.

Bệnh vảy nến là một bệnh da sẩn mạn tính, ban đầu được coi là một rối loạn chủ yếu của tế bào sừng biểu bì, nhưng hiện nay được công nhận là một trong những rối loạn qua trung gian miễn dịch phổ biến nhất. 

Vảy nến là bệnh gì?

Vảy nến là bệnh gì?

2. Nguyên nhân gây bệnh vảy nến

Các chuyên gia cho rằng có nhiều yếu tố như di truyền, các yếu tố kích hoạt kết hợp với sự phá vỡ hàng rào da và rối loạn chức năng miễn dịch có ảnh hưởng không nhỏ đến cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến.

Cơ chế gây bệnh có liên quan đến tự miễn dịch. Phản ứng miễn dịch là phản ứng tế bào. Tế bào T loại 1 (TH1) và loại 17 (TH17) được kích hoạt bởi IL-12 và IL-23 được tiết ra bởi tế bào trình diện kháng nguyên (APC) trong da. Thông qua các cytokine khác nhau, những tế bào này gây ra trạng thái viêm mãn tính và làm thay đổi quá trình tăng sinh, biệt hóa của da.2.1 Gen

Các nghiên cứu về di truyền học đã chỉ ra rằng bệnh nhân vảy nến có nhiềugen liên quan đến chức năng hàng rào miễn dịch và da. 

  • Các phân tích về tỷ lệ mắc bệnh cho thấy nếu 1 trẻ bị mắc bệnh thì xác suất 70%  trẻ sinh đôi cùng trứng còn lại cũng bị bệnh. Tỷ lệ này khoảng 20% ở các cặp song sinh khác trứng. 
  • Tỷ lệ mắc bệnh ở con là 20% nếu có bố hoặc mẹ bị bệnh. Tỷ lệ này tăng lên thành 65% nếu có cả bố và mẹ bị bệnh. 
  • Có 2 đột biến gen được tìm thấy gây ra bệnh vảy nến một cách độc lập ( IL36RN và CARD14 ) bằng cách ảnh hưởng đến cả da và hệ thống miễn dịch.

Yếu tố kích hoạt khởi phát bệnh

Một số yếu tố kích hoạt bao gồm chấn thương, phản ứng thuốc, nhiễm trùng cũng như các biến số có thể thay đổi như căng thẳng tâm lý, béo phì, hút thuốc và rượu có liên quan đến khuynh hướng phát triển bệnh vảy nến và làm trầm trọng thêm bệnh.

  • Thời tiết khô, lạnh là một trong các tác nhân khiến da nứt nẻ, chảy máu và dễ nhiễm trùng.
  • Chấn thương hoặc vết thương ngoài da như nổi mụn nước, hình xăm, bỏng và vết cắn của động vật hoặc côn trùng
  • Thuốc: Các loại thuốc được báo cáo phổ biến nhất để kích hoạt bệnh là lithium, thuốc chẹn beta, thuốc chống sốt rét, tetracycline và thuốc chống viêm không steroid…
  • Nhiễm trùng là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh vảy nến, đặc biệt là ở trẻ em. Bệnh thể giọt có liên quan đến nhiễm trùng liên cầu Streptococcus pyogenes qua cả đường hầu họng và da.
  • Căng thẳng tâm lý được biết là một trong những yếu tố làm trầm trọng thêm bệnh vảy nến bằng cách thay đổi hệ thống miễn dịch. Nhiều chuyên gia cho rằng, sự gia tăng nồng độ hormone căng thẳng do kích hoạt trục dưới đồi – tuyến yên – thượng thận có thể gây ra đợt cấp của bệnh vảy nến.
  • Rượu và thuốc lá: Các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh ở những bệnh nhân lạm dụng rượu ngày càng tăng. Theo nghiên cứu, uống rượu có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc căn bệnh này. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ phát triển bệnh vảy nến ở những người đã hoặc đang hút thuốc cao hơn những người chưa bao giờ hút thuốc.
  • Béo phì: Một trong các yếu tố nguy cơ của bệnh vảy nến là tình trạng thừa cân, béo phì. Mặc dù chưa rõ về cơ chế làm thế nào mà béo phì lại thúc đẩy bệnh vảy nến nhưng rất nhiều nghiên cứu khẳng định mối liên quan giữa béo phì và mức độ nghiêm trọng của bệnh.
  • Sự thay đổi của hệ vi sinh vật trên da: Do da hoạt động như một hàng rào tiếp xúc với môi trường bên ngoài, nên nó là nơi cư trú của các vi sinh vật khác nhau bao gồm vi khuẩn, nấm, vi rút…. Một số yếu tố bao gồm tuổi tác, di truyền, phản ứng miễn dịch, khí hậu và vệ sinh ảnh hưởng đến thành phần của các cộng đồng vi sinh vật trên da. Ngoài ra, sự khác biệt về độ dày của da, mật độ nang lông và sự xâm nhập của da tạo nên môi trường sống khác nhau với thành phần hệ vi sinh vật khác nhau. Trong điều kiện lành mạnh, các mối quan hệ cộng sinh phát triển, giúp bảo vệ da chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh và có hại cho vật chủ bằng cách giáo dục và nuôi dưỡng các tế bào T thường trú. Do đó, những thay đổi trong cộng đồng vi sinh vật trên da có liên quan đến bệnh tật. Da tổn thương vảy nến đã được chứng minh là có sự đa dạng vi sinh vật thay đổi, tăng S. pyogenes, S. aureus, nấm men Malassezia, nấm Candida…. khi so sánh với da khỏe mạnh và không tổn thương.

3. Triệu chứng của bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến gây ra các tổn thương trên nhiều cơ quan, đa dạng về hình thái và vị trí tổn thương.

3.1. Tổn thương da

Tổn thương da là dạng tổn thương đặc trưng và phổ biến nhất ở người bệnh vảy nến. 

  • Hình thái tổn thương: Các dát màu đỏ hoặc hồng, hình tròn hoặc vòng cung hoặc bầu dục có ranh giới rõ ràng với vùng da lành. Trên mặt da vùng dát đỏ có các vảy da trắng đục dễ bong.  
  • Vị trí tổn thương: Thường ở các nếp gấp da, vùng tỳ đè (khuỷu tay, đầu gối….

Khi thực hiện cạo vảy theo phương pháp Brocq bằng dao mổ hoặc thìa nạo cùn sẽ xuất hiện tuần tự các dạng tổn thương: 

  • Dấu hiệu vết nến: Nếu bề mặt của mảng tổn thương, vảy nến sẽ rơi ra dưới dạng các lớp bụi phấn trắng giống như sáp nến. Đó là một dấu hiệu của chứng tăng sừng hóa parakeratotic. 
  • Dấu hiệu vỏ hành: Nếu mảng vảy nến tiếp tục được cạo thêm, có thể để lộ ra một lớp màng mỏng ẩm ướt bám trên tổn thương. Lớp màng này khá dai, trong suốt, có thể bong ra gọi là lớp màng bong. 
  • Dấu hiệu giọt sương máu – Auspitz: Cạo thêm mảng bám cho thấy nền ban đỏ và ổ chảy máu với sự xuất hiện của các đầu nhọn nhỏ màu đỏ.
  • Vòng nhẫn Woronoff: Xung quanh các mảng vảy nến đã lành, có thể quan sát thấy một vòng vàng giảm sắc tố.

3.2 Tổn thương móng tay, chân

Có khoảng 30-50% người bệnh vảy nến bị tổn thương da đầu ngón và móng tay, chân. Móng tay ở người bị vảy nến có thể xuất hiện các chấm lõm trên bề mặt móng, vân ngang móng. Móng tay không có màu trong mà xuất hiện đốm trắng, viền móng màu vàng đồng. Móng mủn, thường dày sừng lớp dưới móng, bong từng lớp ở phần bờ tự do. Có những trường hợp xuất hiện mụn mủ ở dưới lớp móng. 

3.3. Tổn thương khớp

Theo thống kê thì có khoảng 10-20% người bệnh vảy nến có triệu chứng đau và hạn chế vận động một số khớp nhất là những khớp nhỏ nhỡ ở bàn tay, bàn chân. Cũng có bệnh nhân có biểu hiện đau các khớp lớn như khớp gối, khớp cổ tay, cổ chân, viêm cột sống dính khớp… Các biểu hiện này thường gặp ở bệnh nhân thể viêm khớp vảy nến.

3.4. Tổn thương niêm mạc 

Tổn thương niêm mạc ở người bệnh vảy nến chiếm tỷ lệ nhỏ thường gặp tổn thương niêm mạc bao quy đầu, lưỡi, mắt…. Các tổn thương này thường là vết dát màu hồng, giới hạn rõ và thường ít hoặc không có vảy trắng.  

4. Phân loại bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến rất đa dạng về hình thái, đặc điểm và mức độ nghiêm trọng của các tổn thương. Phân loại bệnh vảy nến trên lâm sàng là yếu tố quan trọng giúp các bác sĩ có thể xác định được phương thức điều trị phù hợp và hiệu quả

Bệnh vảy nến trên lâm sàng được phân thành 2 nhóm lớn: Tổn thương có mụn mủ và không có mụn mủ.

4.1. Bệnh vảy nến không có mụn mủ

Vảy nến vulgaris hay vảy nến thể mảng (vảy nến thường)

Chiếm gần 90% các trường hợp. 

Về mặt lâm sàng, nó được quan sát thấy như những mảng ban đỏ có ranh giới rõ ràng và được bao phủ bởi vảy hình quả lê. Các tổn thương thể hiện sự phân bố đối xứng và chúng thường khu trú nhất ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu và vùng xương cùng. Kích thước trung bình của các mảng tổn thương dao động từ 5-10cm

Bệnh vảy nến thể giọt

Đây là loại bệnh vảy nến thường xuyên gặp ở trẻ em và thanh niên. Tổn thương khởi phát đột ngột với biểu hiện giống như những giọt nước nhỏ có kích thước nhỏ hơn 1cm, màu hồng sậm hoặc đỏ và ít thường xuyên hơn là sẩn vảy nến dạng vảy. Các tổn thương này thường xuất hiện sau nhiễm trùng liên cầu. Với sự thoái triển của nhiễm trùng, những tổn thương này sẽ biến mất một cách tự nhiên. Thương tổn thường thấy trên thân, phần gần của tứ chi, mặt và da đầu. Chúng thường thoái triển trong vòng 3-4 tháng. Đôi khi tổn thương có thể tiến triển nặng dần, mở rộng và có hình dạng mảng vảy nến

Bệnh vảy nến thể đỏ da toàn thân

Các tổn thương vảy nến ảnh hưởng đến gần 80% bề mặt cơ thể ở dạng vảy nến tổng quát này. Những tổn thương chủ yếu là ban đỏ được nhìn thấy, các sẩn và mảng điển hình mất đi đặc điểm đặc trưng. Sự bong tróc không quá khác biệt.

Sự bong tróc cũng có thể dẫn đến mất protein và các vấn đề toàn thân liên quan, chẳng hạn như phù chi dưới và có thể xảy ra suy tim, gan và thận. Ngoài ra, hàng rào bảo vệ của da bị suy giảm, dẫn đến khả năng phát triển các phản ứng toàn thân. Thông thường, nó phát triển như một biến chứng của bệnh vảy nến vulgaris, hoặc nó có thể khởi phát độc lập như bệnh vảy nến hồng cầu. Rối loạn móng tay rất nghiêm trọng. Có thể quan sát thấy nổi hạch ngoài da và ngứa nghiêm trọng.

Bệnh vảy nến Palmoplantar

Thông thường, loại bệnh vảy nến này xảy ra đối xứng với lòng bàn tay và lòng bàn chân. Hồng ban không phải lúc nào cũng xuất hiện, nhưng khi tồn tại, nó xuất hiện dưới dạng tổn thương màu vàng hồng. Lớp vảy dày có thể làm xuất hiện dày sừng.

Viêm khớp vảy nến (PsA)

Ở 75% bệnh nhân bị viêm khớp vảy nến, bệnh vảy nến khởi phát trước khi xuất hiện các triệu chứng khớp. Khoảng 15% trường hợp, tổn thương da được nhìn thấy đồng thời với bệnh viêm khớp. Ở 10% bệnh nhân, viêm khớp biểu hiện trước khi xuất hiện các tổn thương trên da. 

Ở 80% bệnh nhân bị vảy nến thể khớp, có sự liên quan của móng.

Viêm khớp vảy nến có 5 phân nhóm khác nhau:

  • 1) Viêm khớp vảy nến cổ điển: Nó ảnh hưởng đến các khớp nhỏ nhỡ của ngón tay và ngón chân và có tỷ lệ mắc bệnh gần 10%. Sự liên quan đến móng tay thường được nhìn thấy.
  • 2) Viêm khớp cổ chân không đối xứng: Đây là dạng khớp đặc trưng nhất. Ngoài các khớp chính, chẳng hạn như khớp gối, khớp liên sườn xa và gần, khớp xương ức và khớp xương cổ chân cũng bị ảnh hưởng không đối xứng. Nó được thấy trong 11% trường hợp.
  • 3) Dạng đa cực đối xứng: Nó giống bệnh viêm khớp dạng thấp. Khi so sánh với viêm khớp dạng thấp, các khớp nhỏ nhỡ ngón tay chân thường bị ảnh hưởng và xu hướng thoái hóa xương được quan sát thấy. Trong các nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh đã được chứng minh là dao động trong khoảng 15–61%.
  • 4) Bệnh viêm khớp: Nó được đặc trưng bởi quá trình tiêu xương tiến triển của xương ngón tay và xương cổ tay. 
  • 5) Dạng dính cột sống: Viêm cột sống biệt lập hiếm khi gặp (2–4%). Nói chung, nó có liên quan đến viêm khớp ngoại vi. Hình thức này giống như viêm cột sống dính khớp, và sự liên quan đến khớp cùng chậu đối xứng hoặc không đối xứng.

Bệnh vảy nến thể ngược

Bệnh vảy nến khu trú ở da được gọi là bệnh vảy nến thể uốn hoặc vảy nến đảo ngược. Các tổn thương vảy không hình thành do ma sát và độ ẩm trong các nếp gấp da. Tổn thương biểu hiện thành mảng đỏ tươi, đối xứng, thâm nhiễm, nứt nẻ với đường viền rõ rệt, sắc nét. Nó thường được nhìn thấy ở những người béo phì và có xu hướng phát triển tổn thương tiết bã.

Vảy nến có nhiều dạng, nhiều biểu hiện

Vảy nến có nhiều dạng, nhiều biểu hiện

4.2 Bệnh vảy nến thể mủ

Bệnh vảy nến mụn mủ toàn thân (loại von Zumbusch)

Đây là một dạng vảy nến hiếm gặp, tiến triển thành mụn mủ. Nó thường được thấy ở những người trẻ tuổi và có thể phát triển độc lập hoặc là một biến chứng của bệnh vảy nến. Chẳng hạn như thứ phát sau khi ngừng điều trị steroid toàn thân, các yếu tố kích hoạt can thiệp, hạ calci huyết hoặc điều trị kích thích. Bệnh khởi phát đột ngột trên nền ban đỏ kết hợp với các triệu chứng chung, chẳng hạn như sốt cao, buồn ngủ và đau đa cơ. Mụn mủ khô trong vòng vài ngày, sau đó là sự bùng phát của mụn mủ mới. Ban đỏ xung huyết có xu hướng lan rộng.

Chốc lở herpetiformis

Đây là một dạng vảy nến hiếm gặp, còn được gọi là vảy nến thể mủ toàn thân của thai kỳ. Nó được đặc trưng bởi những tổn thương hồng ban được bao phủ bởi mụn mủ, bắt đầu và tỏa ra từ các vùng nếp gấp và có xu hướng kết tụ.

Có thể có tình trạng nấm móng xuất hiện sau mụn mủ dưới lưỡi. Tổn thương ngứa hoặc gây cảm giác đau rát và có mùi hôi. Ngoài tình trạng sức khỏe chung suy giảm, có thể xuất hiện các triệu chứng khó chịu, sốt, rùng mình, buồn nôn và nôn. Bệnh có thể tái phát trong nhữnglần mang thai tiếp theo.

Bệnh vảy nến mụn mủ khu trú

Bệnh vảy nến mụn mủ Palmoplantar: Đây là một dạng mãn tính, tái phát thường xuyên hơn ở phụ nữ và những người có tiền sử gia đình bị bệnh vảy nến. Người bệnh có những mụn mủ có kích thước 2-4 mm khu trú trên vùng lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù căn nguyên của nó không được biết chính xác nhưng hút thuốc, viêm amidan, độ ẩm và nhiệt độ cao có thể kích hoạt bệnh

Viêm da đầu chi liên tục Hallopeau: Đây là một bệnh rối loạn da tiến triển gần, đặc trưng bởi những nốt mụn mủ vô trùng ở ngón tay ngón chân, dẫn đến mất móng tay và đốt ngón tay chân trong những trường hợp nghiêm trọng. Các mụn mủ liên kết với nhau, tạo thành mụn nước nhỏ, đa vòng, có mủ, chứa đầy dịch.

5. Cách điều trị bệnh vảy nến

Mặc dù đến nay vẫn chưa có cách chữa khỏi bệnh vảy nến, nhưng có nhiều lựa chọn điều trị hiệu quả và kiểm soát tốt bệnh. 

Nhiều liệu pháp tại chỗ và toàn thân để điều trị các biểu hiện ngoài da của bệnh vảy nến. Phương thức điều trị được lựa chọn dựa trên mức độ nghiêm trọng của bệnh, các bệnh đi kèm có liên quan và khả năng chi trả của người bệnh. 

Liệu pháp tại chỗ thường được dùng cho bệnh nhân mức độ bệnh từ nhẹ đến trung bình. Trường hợp thuốc dùng ngoài da không đạt được hiệu quả như mong muốn thì liệu pháp toàn thân sẽ được cân nhắc sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với liệu pháp tại chỗ. 

5.1. Liệu pháp tại chỗ

Corticosteroid: Được coi là nền tảng của điều trị tại chỗ, corticosteroid thường được dung nạp tốt và có hiệu quả đối với bệnh nhân bị vảy nến nhẹ. axit salicylic, một chất tiêu sừng, có thể được kết hợp với liệu pháp steroid để giúp điều trị các mảng có vảy dày hơn, để thuốc thẩm thấu tốt hơn.

Các chất tương tự vitamin D3: Calcipotriol, một chất tương tự vitamin D3, là thuốc bôi đầu tiên để điều trị bệnh vảy nến thể mảng và bệnh vảy nến da đầu mức độ vừa phải. Nó làm giảm các triệu chứng bằng cách điều chỉnh sự tăng sinh và biệt hóa của tế bào sừng, bằng cách ức chế hoạt động của tế bào lympho T. Các tác dụng phụ bao gồm viêm da kích ứng nhẹ và hiếm khi tăng calci huyết khi sử dụng quá nhiều. Những tác nhân này không nên được sử dụng kết hợp với axit salicylic hoặc trước khi điều trị bằng đèn chiếu.

Sản phẩm kết hợp: Kết hợp calcipotriol và betamethasone dipropionate được chứng minh là có hiệu quả hơn đối với bệnh vảy nến so với đơn trị liệu. Gel kết hợp được dung nạp tốt và có thể được thoa một lần mỗi ngày, tránh các vùng da mặt, bộ phận sinh dục và cơ gấp.

5.2. Liệu pháp trị liệu toàn thân

Quang trị liệu: Quang trị liệu là phương pháp điều trị chính đối với bệnh vảy nến từ trung bình đến nặng, đặc biệt là những trường hợp vảy nến không đáp ứng với các tác nhân tại chỗ. 

Acitretin: Acitretin là một loại retinoid tổng hợp được chỉ định để điều trị bệnh vảy nến từ trung bình đến nặng. Vai trò của nó như là một liệu pháp bổ trợ cho các tác nhân toàn thân khác đã được ghi nhận để nâng cao hiệu quả, liều lượng thấp hơn và giảm sự xuất hiện của tác dụng phụ. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm khô da niêm mạc, đau khớp, rối loạn tiêu hóa và nhạy cảm với ánh sáng.

Methotrexate: Methotrexate là một chất ức chế sinh tổng hợp folate, được sử dụng với đặc tính kìm tế bào và chống viêm trong điều trị bệnh vảy nến từ vừa đến nặng, cũng như viêm khớp vảy nến.

Cyclosporine: Cyclosporine là một chất ức chế calcineurin được chỉ định để điều trị bệnh vảy nến từ trung bình đến nặng. Cũng có một số bằng chứng về hiệu quả của nó trong bệnh viêm khớp vảy nến.

Liệu pháp sinh học: Sinh học đã nổi lên như những lựa chọn điều trị có hiệu quả cao ở những bệnh nhân mà các liệu pháp toàn thân truyền thống không đạt được đáp ứng đầy đủ, không được dung nạp do có tác dụng phụ hoặc không phù hợp do bệnh đi kèm.

6. Phương pháp phòng vảy nến hiệu quả

Nguyên nhân gây bệnh vảy nến chủ yếu là do hệ miễn dịch suy yếu, rối loạn, dẫn đến tự miễn dịch. Dưới đây là một số cách phòng bệnh:

  • Giữ ẩm cho da, tránh da bị khô. Nên sử dụng kem dưỡng ẩm hoặc máy tạo ẩm…
  • Hạn chế tối đa các chấn thương hoặc nhiễm trùng hoặc côn trùng….  Không nên gãi khi ngứa tránh xước da. 
  • Tránh tiếp xúc da với các loại hóa chất độc hại, môi trường quá nóng nực hoặc quá lạnh.
  • Trước khi sử dụng thuốc cần xem kỹ tác dụng phụ của thuốc đối với bệnh vảy nến.
  • Nghỉ ngơi hợp lý, tránh căng thẳng, ngủ đủ giấc, dinh dưỡng đầy đủ
  • Không nên uống rượu, bia, thức uống có cồn và không hút thuốc lá.
  • Những người bị bệnh có kèm béo phì nên giảm cân.
  • Tuân thủ các hướng dẫn của bác sĩ trong suốt quá trình điều trị bệnh. Tái khám theo lịch. 

Mặc dù bệnh vảy nến là bệnh mạn tính, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nhưng nếu phát hiện và điều trị kịp thời người bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống.

BS. Thanh Mai

(Visited 43 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *