Cảo bản

11/09/2019

1. Tên gọi

Tên thường gọi

Cảo bản (vì gốc cây có hình dáng như gốc lúa: cảo – lúa, bản – gốc). Trong một số tài liệu có nhắc đến một số tên gọi khác như: Cảo bổn, Thổ khung, Quỷ thần, Quy tân,… tuy nhiên không thông dụng

Bộ phận dùng

Rễ (củ) của cây Bắc cảo bản (Ligusticum jeholense Nak.et Kitaga) hoặc cây Tây khung cảo bản (Liguslicum sinense Oliv.) họ Hoa tán Apiaceae (Umbelliferae).

Các thầy thuốc YHCT ở nước ta thường không phân biệt hai loại Cảo bản này mà dùng chung với tên Cảo bản. Hiện tại thì cả hai loại này đều chưa được trồng và khai thác ở nước ta. Nguồn dược liệu tất cả được nhập từ Trung Quốc.

2. Mô tả

Cách nhận biết và phân loại

Cảo bản gồm 2 loại:

  • Cây Liêu cảo bản (Bắc cảo bản – Ligusticum jeholense) là một cây sống lâu năm, cao 0,15 – 0,16m, thân rễ ngắn. Toàn cây có mùi rất thơm, thân mọc thẳng đứng, phía dưới có đường kính 3 – 5mm, thường có màu tím. Lá 2 lần kép lông chim mép có răng cưa, cuống lá phát triển thành bẹ ôm lấy thân. Cụm hoa hình tán kép 6 – 19 cuống, tán dài ngắn không đều, tán nhỏ mang chừng 20 hoa nhỏ màu trắng. Quả gồm 2 phần quả dính nhau, hình thoi, dài chừng 5mm. Trên mỗi phần quả có 5 sống dọc.
  • Cây Tây khung cảo bản (Liguslicum sinense Oliv.) cũng là một cây sống lâu năm. Lá mọc so le 2 – 3 lần xẻ lông chim kép, cuống lá dài 9 – 12cm, phía dưới ôm lấy thân cây. Cụm hoa hình tán kép, mỗi tán 16 – 20 cuống, mỗi tán nhỏ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng. Quả cũng gồm 2 phần quả, mỗi phần quả cũng có 5 ống chạy dọc, nhưng giữa sống của quả Tây khung cảo bản có tới 3 ống tinh dầu trong khi quả Liêu cảo bản chỉ có 1 ống tinh dầu

Củ của cả 2 loại Cảo bản đều được dùng làm thuốc. Củ có nhiều mắt rễ sùi phòng to hình cầu. Củ to bằng ngón tay cái, sù sì giống củ xuyên khung nhỏ, mùi vị giống xuyên khung, đắng, thơm, không có mộc mọt là tốt.

Cảo bản – Bộ phận dùng làm thuốc (Nguồn: Internet)

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Phân bố: Hiện tại nước ta chưa trồng được cảo bản. Ở Trung Quốc Liêu cảo bản phân bố chủ yếu ở Hà Bắc, Sơn Tây, Liêu Ninh, Cát Lâm, Nội Mông là những vùng có khí hậu lạnh.
  • Thu hái: Mùa thu hái từ tháng 4 – 10 hàng năm. Cảo bản được đào lấy rễ và thân rễ, bỏ phần trên mặt đất, rửa sạch, phơi khô.

3. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý

Hiện tại, thành phần hai loại Cảo bản nói trên chỉ mới được biết đến có chứa tinh dầu thơm.

Tinh dầu Cảo bản có tác dụng trấn tỉnh, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Trên thực nghiệm, Cảo bản cho thấy có khả năng ức chế cơ trơn ở ruột, cơ bàng quang và tử cung. Ngoài ra Cảo bản còn cho thấy tác dụng làm giảm tốc độ hao hụt oxy, kéo dài thời gian sống của chuột nhỏ; đồng thời tăng gia khả năng chịu đựng môi trường thiếu oxy của tổ chức, chống thiếu máu cơ tim của chuột thực nghiệm trưởng thành do hoocmon tuyến yên gây ra. Các thử nghiệm khác cho thấy hoạt chất trong Cảo bản có tác dụng giãn cơ trơn phế quản từ đó có tác dụng bình suyễn.

Chất chiết cồn Cảo bản có tác dụng hạ áp, có tác dụng diệt một số vi khuẩn và nấm da thông thường.

4. Vị thuốc Cảo bản

Tính vị, quy kinh

Vị cay đắng thơm, tính ấm. Quy kinh bàng quang

Cảo bản cảm thụ được khí dương của Trời và vị cay của Đất, vì thế cho nên khí ấm mà đắng. Vị đắng có thể theo hỏa hóa cho nên có tính bốc lên, trị được bệnh nhức ở trên đỉnh đầu. Cảo bản tinh vị tân ôn, cương mãnh, quy vào kinh Thái dương, lại kèm thông với mạch Đốc, vì vậy nó là thuốc đặc trị ngoại cảm phong hàn khiến đỉnh đầu đau nhức. Khi dùng thường kết hợp với các vị Xuyên khung, Bạch chỉ hoặc Tế tân để tăng tác dụng điều trị. Các trường hợp đau đầu do phong nhiệt thì không dùng được.

Công dụng, chủ trị

  • Tác dụng: Phát tán phong hàn, trừ thấp
  • Chủ trị các chứng mụn nhọt, sang lở, cảm mạo, đau đầu do lạnh ngoài ra còn dùng để trị gầu (sắc nước gội đầu)

Liều dùng, kiêng kị

  • Liều dùng: 3 – 6g/ngày
  • Kiêng kị: Người âm hư hỏa thịnh, không có thực tà và nhiễm phong hàn

Ứng dụng lâm sàng

  • Cảo bản chữa cảm mạo do lạnh gây gai rét sợ gió lạnh, đau vùng đầu nhiều, đau mình mẩy, biểu thực không có mồ hôi, mạch phù

Bài thuốc: Khương hoạt phòng phong thang

Cam thảo, Cảo bản, Đương quy, Khương hoạt, Phòng phong, Xích thược, Xuyên khung mỗi vị 160g; Tế tân, Địa du mỗi vị 80g. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần dùng 20g, sắc nước uống 2 – 3 lần/ngày.

  • Cảo bản chữa đau đầu, đau vùng gáy (theo kinh Thái dương), đau răng lợi

Phòng phong, Cảo bản, Bạch chỉ mỗi vị 9g; Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần khi còn nóng

Trường hợp hàn tà uất ở kinh Túc thái dương Bàng quang gây đau nhức vùng đỉnh đầu lan ra sau gáy: Cảo bản 06g, Khương hoạt 08g, Tế tân 06g , Xuyên khung 12g, Thông bạch 08g, sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần khi nóng.

  • Cảo bản chữa ngứa lở ngoài da, da đầu nhiều gầu:

Cảo bản, Bạch chỉ 2 vị lượng bằng nhau tán bột mịn, bôi vào da buổi tối trước khi ngủ và gội sạch lại vào buổi sáng. Hoặc Cảo bản 20, sắc với nước gội đầu hoặc tắm; trường hợp ngứa ngoài da có thể dùng để ngâm quần áo.

  • Cảo bản chữa đau bụng do lạnh trong trường hợp đang hành kinh bị nhiễm phong hàn gây thống kinh:

Cảo bản, Tế tân, Phòng phong, Mộc hương, Phục linh, Can khương, Cam thảo mỗi vị 4g; Ngô thù du, Ô dược, Bán hạ, Quy đầu, Thương truật, Mạch môn, Đan bì mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

  • Cảo bản chữa đau khớp do phong, hàn, thấp

Cảo bản 06g, Khương hoạt, Phòng phong, Uy linh tiên, Thương truật mỗi vị 8g. Tất cả sắc nước uống ngày 2 lần khi còn nóng

BS. Hương Giang

(Visited 24 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *