Chăm thai tốt để con thông minh khi chào đời

14/04/2018

Có đầy đủ kiến thức, chuẩn bị tốt nhất về tư tưởng, thể chất khỏe mạnh để giúp cho quá trình mang thai của bà mẹ được thuận lợi và sinh ra những “thiên thần” khỏe mạnh và thông minh như mong muốn của xã hội.

Tăng cân hợp lý ở bà bầu.

Khi mang bầu người mẹ nên tăng cân theo mức sau để đảm bảo sức khỏe bé: mẹ có cân nặng bình thường trước khi mang thai nên tăng 11,3 – 16kg. Nếu người mẹ thiếu cân trước khi mang thai nên tăng 12,7 – 18,3. Trường hợp mẹ dư thừa cân trước khi mang thai, nên tăng 7 – 11,3kg. Nếu mẹ có song thai thì nên tăng 16 – 20,5 kg. Trong ba tháng đầu của thai kỳ, người mẹ nên tăng 1kg, ba tháng giữa tăng 5kg, ba tháng cuối tăng 6kg. Có nhiều bà mẹ ít tăng cân hoặc không tăng cân trong 3 tháng đầu thai kỳ vì bị nghén nhưng phần lớn vẫn tăng được 0,9 – 1,8 kg.

Nhu cầu các chất dinh dưỡng cho bà bầu

Trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ, người mẹ cần nhiều chất đạm để thai nhi hình thành các bộ phận, đặc biệt là não bộ. Trong ba tháng giữa của thai kỳ, cần nhiều canxi hơn cho xương tăng trưởng và tạo ra các tế bào máu. Ba tháng cuối của thai kỳ là giai đoạn mà nhu cầu chất dinh dưỡng quan trọng hơn nữa, vì đây là lúc trọng lượng thai tăng gấp đôi. Do đó, chế độ dinh dưỡng của mẹ không nên cắt giảm khẩu phần vào giai đoạn này, thậm chí còn phải gia tăng hơn mức trước đó.

 

Cần chú ý tới tới chế độ dinh dưỡng trong quá trình mang thai. Ảnh: ST

Cần chú ý tới tới chế độ dinh dưỡng trong quá trình mang thai.      Ảnh: ST

Khi hai vợ chồng có ý định sinh con thì người vợ đã phải nghĩ tới chuyện ăn uống đủ chất dinh dưỡng. Vì ngay từ vài tuần lễ đầu của thai kỳ, đa số các bộ phận của thai nhi đã hình thành và cần chất dinh đưỡng dể tạo lập. Nếu dinh dưỡng không đầy đủ, thai nhi có thể có nhiều rủi ro bệnh tật, khuyết tật thính, thị giác, chậm phát triển trí não, thậm chí còn có nguy cơ sảy thai.

Cung cấp đủ chất đạm và chất béo

Đây là những chất cần thiết cho việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ. Chất đạm cần tăng thêm 15- 20g/ ngày so với bình thường. Chất đạm có vai trò cấu thành nên cơ thể thai nhi, ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển trí não thai nhi. Ngoài bổ sung chất đạm từ nguồn động vật như: thịt, trứng sữa, cá, các loại thủy sản như tôm, cua, cá, ốc,… Cần chú ý tới nguồn chất đạm từ thức ăn thực vật như các cây họ đậu, đỗ.

Chất béo nên chiếm 20 – 30% tổng năng lượng. Đây là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể thai phụ và còn là dung môi để hấp thu các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K. Nên sử dụng dầu thực vật và các loại hạt có chứa nhiều chất béo như lạc, vừng, mè, dầu thực vật các loại,…

Bổ sung vitamin chất khoáng

Các chất khoáng và vi khoáng là chất với hàm lượng nhỏ nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa, hình thành và hoàn thiện bộ phận của thai nhi.

– Axit folic (vitamin B9): có vai trò quan trọng trong việc phân chia các tế bào, vì vậy ngoài việc tham gia trong qua trình tạo ra tế bào hồng cầu, axit folic còn giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thiện ống thần kinh của thai nhi. Hậu quả của thiếu axit folic là khiếm khuyết ống thần kinh gây ra thai vô sọ, thoát vị não – màng não, hở đốt sống, gai cột sống. Vì ống thần kinh của thai nhi được hình thành trong 4 tuần đầu của thai kỳ, nên việc bổ sung axit folic phải được thực hiện ngay từ trước khi mang thai 2 – 3 tháng. Liều bổ sung được khuyến nghị là 400-800 mcg/ngày. Thực phẩm có nhiều axit folic: thịt bò, gan, giá sống, rau xanh, cải củ, bông cải, đậu nành,…

Chất khoáng và vi khoáng giúp hình ảnh các bộ phận của thai nhi. (Ảnh: Internet)

Chất khoáng và vi khoáng giúp hình thành các bộ phận của thai nhi. (Ảnh: Internet)

– Canxi: nhu cầu canxi đặc biệt quan trọng nhất vào ba tháng cuối của thai kỳ, vì thai nhi cần nhiều chất khoáng để tăng trưởng, tạo xương và răng. Canxi có nhiều trong tôm, cua, cá và sữa. Lượng canxi cần bổ sung trong suốt thời gian mang thai là 800-1200 mg/ngày trong suốt thời gian bà mẹ mang thai và cho con bú. Người mẹ nên uống thêm sữa và bổ sung vitamin D.

– Sắt: thiếu máu do thiếu chất sắt là tình trạng thường gặp ở phụ nữ mang thai (30-50%).

Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt khi có thai là: trẻ có thể bị nhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng cao ở mẹ lẫn con.

Biểu hiện của thiếu máu bao gồm:da xanh, niêm mạch nhợt nhạt, cơ nhão, làm việc hay mệt mỏi, buồn ngủ.

Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, các loại nhuyễn thể, trong ngũ cốc, đậu đỗ các loại và vừng lạc. Sắt do thức ăn cung cấp thường không đáp ứng đủ nhu cầu sắt gia tăng trong suốt thời gian mang thai. Vì lý do này, bà mẹ có thai cần được bổ sung viên sắt. Người mang thai nên bổ sung 60mg sắt nguyên tố/ ngày trong suốt thời kỳ mang thai đến sau sinh 1 tháng.

– Kẽm: các nghiên cứu chỉ ra bổ sung đủ kẽm sẽ giảm nguy cơ sẩy thai, đẻ khó và thai chết lưu cho người mẹ trong thời gian mang thai. Cần bổ sung them 15mg/ngày, nguồn bổ sung kẽm tốt nhất là thịt, cá, sò, củ cải, cùi dừa già, đậu hà lan, đậu nành, lòng đỏ trứng gà và hải sản.

Khám thai định kỳ

Trong quá trình khám thai, ngoài các kiểm tra cơ bản như kiểm tra đường huyết nước tiểu, các bác sĩ chuyên khoa sản còn phối hợp với nhiều chuyên khoa nội, ngoại để giúp sớm phát hiện các bệnh lý có thể ảnh hưởng đến thai phụ như tư vấn thời gian nên đến khám kiểm tra cũng như các dấu hiệu bất thường có thể xảy ra từng giai đoạn thai kỳ.

TS.BS Nguyễn Trọng Hưng

Viện Dinh dưỡng Quốc gia

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *