Công bằng với người thầy thuốc trước các sự cố y khoa

11/01/2019

Phàm là con người thì trong cả cuộc đời hành nghề đều ít nhiều mắc những sai sót – sai lầm nhất định, với ngành y thì càng không thể tránh khỏi, nó chỉ  khác là những sai sót- sai lầm của bác sĩ sẽ  ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng của con người. Trước mỗi bệnh nhân cụ thể thì nghiệp vụ, kinh nghiệm lâm sàng và trách nhiệm của người thầy thuốc đóng vai trò quyết định tới sự thành công của công tác điều trị . Tuy nhiên con người phức tạp hơn bất kỳ một cổ máy tinh xảo nào khác và luôn thường trực các yếu tố nguy cơ dẫn tới  các biến cố y khoa ngoài mong muốn.

Bác sĩ Hoàng Công Lương đang khám bệnh cho bệnh nhân (nguồn: internet)

Bác sĩ Hoàng Công Lương đang khám bệnh cho bệnh nhân (nguồn: internet)

Đành rằng trong ngành y vẫn còn có người thầy thuốc chưa chuẩn mực với đạo đức nghề nghiệp gây phiền hà cho  người bệnh, nhưng chắc chắn đó là thiểu số. Vì vậy trước các biến cố y khoa diễn ra, nếu đổ hết lỗi cho người bác sĩ thì thực sự không công bằng, sẽ để lại ảnh hưởng xấu tới công tác chuyên môn của người bác sĩ.  Giới ngành y luôn mong mỏi cần có một hành lang pháp lý rõ ràng, một qui trình chuẩn mực, một cơ quan có đầy đủ khả năng, uy tín và tư cách để lập tức xác định nguyên nhân sự cố nhằm đảm bảo sự công bằng của pháp luật và bảo vệ người bác sĩ trước dư luận và mọi sức ép khác.

Thực tế hiện nay khi xảy ra sự cố y khoa thì người nhà bệnh nhân và dư luận luôn gây sức ép khủng khiếp, thậm chí uy hiếp buộc bác sĩ và cơ sở y tế phải nhượng bộ. Không ít trường hợp các cơ sở y tế, bác sĩ điều trị đã tự thỏa hiệp và chấp nhận bồi thường thay vì trông chờ vào kết luận của công lý. Việc bác sĩ, cơ sở y tế tự “hòa giải” với người nhà bệnh nhân đã trở thành tiền lệ vô cùng xấu với giới ngành y, làm giảm sút niềm tin của người bác sĩ,  cốt lõi của vấn đề không được giải quyết triệt. Thậm chí, các cơ quan có trách nhiệm của ngành đáng nhẽ phải đi tìm nguyên nhân để phán xử công minh lại xem sự thỏa hiệp này là một cách giải quyết ưu việt đó là “Tự hòa giải”. Trường hợp người nhà bệnh nhân có vai vế trong xã hội thì người bác sĩ xem như “treo găng” vô thời hạn hoặc chia tay với nghề. Công lý vì vậy đã không được thực thi.

Bác sĩ Hoàng Công Lương tiều tụy trong bộ trang phục bệnh nhân bên giường bệnh (nguồn: internet)

Bác sĩ Hoàng Công Lương tiều tụy trong bộ trang phục bệnh nhân bên giường bệnh (nguồn: internet)

Cô đơn, bất lực, thậm chí cùng quẫn mà dẫn tới hành động tiêu cực là trạng thái đã từng diễn ra đối với người bác sĩ khi xẩy ra một sự cố y khoa. Nhìn hình ảnh BS Hoàng Công Lương trong bộ trang phục của bệnh nhân để điều trị về bệnh tâm lý làm mỗi chúng ta đều thấy chua xót. Mong mỏi sao sẽ có bộ luật bảo vệ quyền hành nghề của người bác sĩ, phòng chống bạo lực, bạo hành đối với nhân viên y tế, cũng là cơ sở để người bác sĩ được chứng mình trách nhiệm của mình trước các sự cố y khoa.

Một hành lang pháp lý trước các sự cố y khoa không phải nhằm che dấu những sai sót – sai lầm, nhưng người thầy thuốc chân chính chỉ CẦN CÔNG BẰNG TRƯỚC PHÁP LUẬT

Nguồn: Nội khoa Việt Nam

Bi kịch màu áo trắng

Sáng 16/7/1996, một bác sĩ ở Bệnh viện Mắt Trung ương đã chỉ định bác sĩ Nguyễn Duy Minh tiêm hai loại thuốc Gentamycin và Hydrocortison vào khoang cạnh nhãn cầu cho một bệnh nhân.

Sau rút mũi kim vài tiếng, mắt trái của bệnh nhân đau dữ dội và không nhìn thấy gì, các bác sĩ phải mổ cấp cứu. Đó là một bi kịch. Hàng loạt sự việc diễn ra tiếp theo đã tạo nên một bi kịch khác: 4 tháng sau, bác sĩ Minh treo cổ tự sát.

Cho đến hôm nay, vẫn chưa ai tìm ra lỗi của bác sĩ Minh. Nhưng lúc đó, gia đình bệnh nhân đã gây áp lực mạnh mẽ, yêu cầu Bộ Y tế đuổi việc, cá nhân bác sĩ Minh phải bồi thường 30 triệu. Trước sức ép từ nhiều phía, bác sĩ Minh bị cách ly khỏi người bệnh, cách ly khỏi sinh viên, bị cô lập khỏi đồng nghiệp, phải tự rời bỏ bệnh viện và nhà trường, chuyến đi tu nghiệp tại Pháp cũng bị dừng lại.

Là người chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, tôi rất quan tâm đến cách bác sĩ Minh vật lộn với bi kịch và kết thúc nó. Trước khi bị đình chỉ toàn bộ công việc, tôi nhìn thấy bác sĩ Minh run rẩy khi khám cho bệnh nhân, mệt mỏi khi giảng bài cho sinh viên.

Hàng chục năm công tác, đây là lần đầu tiên anh gặp tai biến nghiêm trọng. Mỗi buổi sáng đến viện Mắt, người bác sĩ chỉ biết ngồi im nhìn chồng bệnh án trong sự cô đơn và bất lực. Phía sau anh không có một ai, thay vào đó là những bộ bàn ghế trống, có thêm tập báo với hàng loạt bài viết về anh giống như một tội đồ.

Ngày nhận quyết định tạm thời đình chỉ công việc, bác sĩ Minh lái xe về nhà trong trạng thái hoảng loạn, mọi thứ bắt đầu tuột dốc. Những tháng ngày sau đó, bác sĩ Minh lặng lẽ sống quanh quẩn với mẹ già và mấy đứa em, tiếp tục gặm nhấm từng bài báo. Qua nhiều đêm mất ngủ, anh kể với tôi rằng mình suy nghĩ rất nhiều, và cảm thấy như bản thân là kẻ xấu, khi hình ảnh bệnh nhân cứ trườn qua cửa sổ, mang theo vết thương cũ đến tố cáo và đòi tiền.

Là người tiếp xúc trực tiếp với bác sĩ Minh, tôi biết anh không chỉ rất giỏi chuyên môn, mà còn là một bác sĩ rất yêu nghề, rất yêu bệnh nhân. Anh từng viết những câu thơ dành cho người bệnh.

Đêm 24/11/1996, bác sĩ Minh gọi đứa em gái đang học lớp 12 vào ngủ cùng. Anh tâm sự với em rất nhiều, muốn em gái học thật giỏi, nhất là môn ngoại ngữ để sau này có thể đi tu nghiệp ở nước ngoài. Nhưng bác sĩ Minh không muốn em theo học ngành y để trở thành bác sĩ.

Buổi sáng hôm sau, cô em gái cảm thấy bất an, lao vội về nhà. Bước chân lên căn gác, đập ngay vào mắt em là người mẹ già đang nằm bất tỉnh dưới sàn, anh trai đã được mọi người cắt dây đặt nằm xuống giường. Ngay phía dưới nơi anh treo cổ là chiếc ghế anh ngồi đọc sách hàng ngày, bên trên có một cuốn từ điển tiếng Pháp, trên nữa có chồng sách bệnh học, đó là những thứ anh tự kê và bước chân lên tìm đến cái chết.

Làm bác sĩ, tôi dễ dàng ghi lại sự đau khổ của nhiều đồng nghiệp sau những sự cố y khoa, cùng những tổn thương của gia đình họ.

Hôm nay, tôi vẫn còn thấy những giọt nước mắt của nhân viên y tế ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình. Họ chưa thể nào lấy lại bình tĩnh, bàn tay chưa thể hết run rẩy mỗi khi bước vào một ngày làm việc mới, dù 6 tháng đã qua kể từ vụ tai biến khiến 8 bệnh nhân tử vong.

Tôi cũng vừa mới được nghe tâm sự của các y bác sĩ Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh sau sự cố 4 cháu bé sơ sinh tử vong. Từ điều dưỡng cho đến bác sĩ, họ quá mệt mỏi khi mỗi buổi sáng đến viện sẽ là một ngày làm việc chuyên môn căng thẳng. Buổi tối họ còn phải trả lời hàng loạt câu hỏi điều tra của công an. Đêm muộn trở về đến nhà, trên một con đường có hai làn xe rỗng, họ phải chiến đấu với bản thân để giữ vững tay lái. Những ngày nghỉ đi chơi cùng gia đình, họ không cảm thấy gì cả.

Mỗi khi sự cố y khoa xảy ra, tâm lý của những người trong cuộc rất xấu, có khi là hoảng sợ không tìm thấy lối thoát. Nhưng họ vẫn không được phép dừng lại, không có sự trợ giúp thực sự; mà họ vẫn phải tiếp tục khám bệnh nhân và thực hiện những ca phẫu thuật. Nếu họ không lấy lại được sự tự tin của mình, thì chính những bệnh nhân tiếp theo sẽ lại phải gánh chịu hậu quả.

Nhân viên y tế là những người làm công việc thuộc lĩnh vực khoa học không hoàn hảo trong một thế giới không hoàn hảo, nên họ luôn phải đối diện với nguy cơ trở thành nạn nhân của chính hệ thống chăm sóc sức khỏe không hoàn hảo ấy.

Làm bác sĩ sẽ không ai tránh khỏi sai lầm. Nhưng sai lầm lớn nhất không phải là những lỗi chẩn đoán hay điều trị sai, cũng không phải do quy trình bị làm hỏng; mà sai lầm lớn nhất là chúng ta đặt niềm tin vào giá trị tuyệt đối của một cá nhân, để khi xảy ra sự cố thì mọi tội lỗi đều đổ lên đầu chính cá nhân ấy.

Hệ thống y tế được thiết kế với nhiệm vụ cụ thể là bảo vệ con người và không làm hại bất cứ ai; mà bác sĩ cũng chính là con người, họ cần được bảo vệ ngay trong hệ thống của mình.

Sự cố y khoa cần được nhìn nhận trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm không có nghĩa là mạng trả bằng mạng, máu trả bằng máu, cá nhân chịu trách nhiệm với cá nhân.

Sự vào cuộc của bệnh viện không chỉ thể hiện trách nhiệm, mà còn để bảo vệ nhân viên y tế tránh khỏi cuộc khủng hoảng về tinh thần và thể xác. Vai trò nhập cuộc của các cấp quản lý ngành cũng vậy, vừa để xử lý khủng hoảng, vừa giúp cho nhân viên y tế có chỗ dựa pháp lý vững chắc.

Tôi đặc biệt đề cao vai trò của các hội nghề nghiệp, bởi chỉ có uy tín chuyên môn cao nhất mới đủ khả năng hỗ trợ nhân viên y tế vượt qua khủng hoảng. Trong vụ việc 8 bệnh nhân chạy thận nhân tạo bị tử vong, đề nghị “để bác sĩ tại ngoại” của Tổng Hội Y học Việt Nam là một ví dụ sinh động cho vai trò của Hội này.

Cuối cùng, tôi quan niệm sự sẻ chia mới chính là liều thuốc hữu hiệu nhất để giảm bớt những nỗi đau. Mỗi khi nhân viên y tế gặp sự cố, họ rất cần sự chia sẻ của người thân và bè bạn. Nhưng ý nghĩa nhân văn hơn cả, vẫn là sự đồng cảm sẻ chia của dư luận xã hội; đó là những cái nắm tay, những nụ cười thân thiện, những cái tai hiểu biết.

                                                                                                Trần Văn Phúc

                                                                                                  Nguồn: Vnexpress 

 

 

 

 

(Visited 727 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *