Đái tháo đường thai kỳ

06/10/2018

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ  đang ngày một gia tăng cùng với sự gia tăng của béo phì và ĐTĐ típ 2. Theo số liệu thống kê từ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh của Hoa Kỳ thì tỷ lệ ĐTĐTK trên toàn thế giới là khoảng 9,2% và theo ước tính của Liên đoàn Đái Tháo Đường Thế Giới là khoảng  15%.

1. Định nghĩa đái tháo đường thai kỳ 

Những phụ nữ từ trước chưa bao giờ bị đái tháo đường nhưng phát sinh rối loạn dung nạp glucose lần đầu tiên trong khi mang thai và thường là có thể khỏi sau khi sinh thì được gọi là bị mắc chứng đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK).

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang ngày một gia tăng

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang ngày một gia tăng

Như vậy khái niệm này, tức ĐTĐTK, không bao gồm những phụ nữ đã được biết là có đái tháo đường type 1 hay type 2 từ trước khi thụ thai. Những trường hợp này được gọi là đái tháo đường tiền thai kỳ (ĐTĐTTK)(1).

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang ngày một gia tăng cùng với sự gia tăng của béo phì và ĐTĐ típ 2. Theo số liệu thống kê từ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh của Hoa Kỳ thì tỷ lệ ĐTĐTK trên toàn thế giới là khoảng 9,2% và theo ước tính của Liên đoàn Đái Tháo Đường Thế Giới là khoảng  15%.

2. Nguyên nhân đái tháo đường thai kỳ 

Đối với cơ thể người bình thường, thức ăn sau khi được ăn vào sẽ được hấp thu và chuyển hóa thành glucose và lưu hành trong máu. Insulin là một nội tiết tố được bài tiết ra từ tuyến tụy. Nó có vai trò quan trọng giúp chuyển hóa glucose, đưa glucose đang lưu hành trong máu vào các tế bào để sử dụng (như cơ, não, gan…).

Khi người phụ nữ mang thai, nhau thai sẽ tiết ra nhiều nội tiết tố khác (như estrogen, cortisol, HPL) gây ảnh hưởng đến tác động của insulin, làm cho insulin không thể đưa glucose vào tế bào sử dụng và hậu quả là gây tăng glucose trong máu và ĐTĐTK. Điều này giải thích nguyên nhân tại sao ĐTĐTK thường xuất hiện ở khoảng 3 tháng cuối thai kỳ, khi mà nhau thai đã to và tiết nhiều loại nội tiết tố.

3. Triệu chứng và các yếu tố nguy cơ dẫn đến đái tháo đường thai kỳ 

ĐTĐTK thường không có triệu chứng gì điển hình, do đó việc làm các nghiệm pháp tầm soát là rất quan trọng, nên nhớ rằng mọi phụ nữ đều có thể phát sinh ĐTĐTK nhưng chỉ có một số người là có nguy cơ cao hơn. Các yếu tố nguy cơ bao gồm:

  • Tuổi trên 25
  • Thừa cân với BMI ≥ 25
  • Có người thân (cha, mẹ, anh chị em ruột…) bị đái tháo đường típ 2
  • Bị rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường-huyết lúc đói hoặc ĐTĐTK trước đó
  • Sinh con to trước đó ( ≥ 4 kg)
  • Hiện có glucose trong nước tiểu
  • Tiền căn bị thai lưu 3 tháng cuối thai kỳ không rõ nguyên nhân
  • Tiền căn sinh con bị dị tật trước đây
  • Yếu tố chủng tộc: người Phi, người Ấn, người châu Á, người gốc Tây Ban Nha, người ở các đảo thuộc Thái Bình Dương.

4. Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ 

Nếu thai phụ có một trong các yếu tố nguy cơ trên sẽ được xếp vào nhóm nguy cơ cao và cần được tầm soát đái tháo đường thực sự ngay lần khám thai đầu tiên: xét nghiệm đường huyết đói, HbA1c hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose.

Tất cả những thai phụ có nguy cơ cao nhưng chưa phát hiện được đái tháo đường ở lần tầm soát đầu tiên và tất cả những thai phụ trên 25 tuổi sẽ được thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose vào tuần thứ 24-28 để xác định hay loại trừ ĐTĐTK.

5. Nghiệm pháp dung nạp glucose được thực hiện như sau:

Trước nghiệm pháp, thai phụ ăn uống bình thường (không ăn kiêng) ít nhất 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp.

Buổi tối trước khi làm nghiệm pháp, ăn uống đầy đủ các chất (tinh bột, đạm, rau xanh…), không hút thuốc lá và không ăn uống gì thêm sau 10 giờ tối. Buổi sáng ngày làm nghiệm pháp, thai phụ được rút mẫu máu đầu tiên để xét nghiệm glucose-máu lúc đói và sau đó sẽ uống một ly nước đường (trong đó có 75 gram glucose, theo hướng dẫn của nhân viên y tế, có thể thêm đá hoặc chanh cho dễ uống).

Sau khi uống nước đường, thai phụ sẽ được rút máu lần 2 sau 1 giờ, và lần 3 sau 2 giờ để xét nghiệm glucose-máu ở các thời điểm tương ứng. Trong quá trình làm nghiệm pháp, không ăn uống gì thêm, chỉ có thể uống nước lọc, không nên vận động quá nhiều (nếu được có thể mang theo sách báo để đọc trong suốt 2 giờ làm nghiệm pháp).

 Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose được cho là bình thường khi cả 3 mẫu đường-huyết đều thấp hơn giá trị cho phép theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ:

Biến chứng và hậu của của bệnh đái tháo đường thai kỳ Thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK khi có 1 trong 3 giá trị đường-huyết cao hơn ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn trên.

6. Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng đến thai nhi ra sao?

ĐTĐTK thường ảnh hưởng đến người mẹ ở 3 tháng cuối thai kỳ, khi đó thai nhi đang lớn nhanh. Vì vậy, ĐTĐTK thường không gây ra các loại khuyết tật như cho các trẻ sơ sinh khác của các bà mẹ đã bị đái tháo đường trước khi mang thai.

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng đến thai nhi ra sao?

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng đến thai nhi ra sao?

Tuy nhiên, ĐTĐTK không được điều trị hay kiểm soát không tốt có thể gây tác hại cho thai. Khi đường – huyết ở mẹ tăng quá cao, glucose sẽ đi qua nhau thai và gây tình trạng dư thừa năng lượng ở thai nhi. Hậu quả là thai nhi to hơn bình thường (macrosomia) và gây nhiều biến chứng trong lúc sanh mà biến chứng thường gặp nhất là sinh khó do kẹt vai. Trẻ sơ sinh sau khi sinh không còn nhận lượng đường-huyết dư thừa từ mẹ, do đó dễ bị hạ đường-huyết sau khi sanh, hoặc một vài biến chứng khác như vàng da, suy hô hấp… Về lâu dài, trẻ có thể thừa cân và có nguy cơ bị đái tháo đường típ 2.

7. Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng đến người mẹ ra sao?

ĐTĐTK thường có ít triệu chứng nhưng nếu không điều trị tốt có thể gây ra các biến chứng cho người mẹ như: cao huyết áp, tiền sản giật, nhiễm trùng, sinh non, tăng tỷ lệ phải mổ lấy thai, khoảng 20 – 50% phụ nữ với tiền sử bị ĐTĐTK có nguy cơ bị rối loạn dung nạp glucose và bị đái tháo đường típ 2 trong vòng 10 năm sau sinh. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ bị ĐTĐTK mà vẫn giữ được cân nặng lý tưởng sau sinh thì cuối cùng tỷ lệ phát triển thành đái tháo đường típ 2 sẽ thấp dưới 25%.

8. Điều trị đái tháo đường thai kỳ 

Phần lớn các trường hợp ĐTĐTK đều được kiểm soát tốt với một chế độ dinh dưỡng và chế độ tập luyện thể lực hợp lý.

8.1. Chế độ dinh dưỡng 

Bác sĩ nội tiết hoặc bác sĩ dinh dưỡng quy định một chế độ dinh dưỡng hợp lý cho từng trường hợp cụ thể nhằm giúp kiểm soát tốt đường – huyết nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng, các chất dinh dưỡng thiết yếu cho thai phụ và cho sự phát triển của thai nhi.

xem thêm: Phụ nữ mắc tiểu đường thai kì nên ăn gì?

Thông thường các thai phụ được khuyên nên ăn uống điều độ, hạn chế những chất bột đường, tăng cường rau xanh nhiều hơn, để giúp kiểm soát đường-huyết. Nếu không có chống chỉ định đặc biệt (dọa sanh non, xuất huyết âm đạo, nhau tiền đạo, ối vỡ sớm…), tất cả các thai phụ đều được khuyên nên tập luyện thể lực điều độ (như đi bộ, yoga…) trong suốt thai kỳ nhằm giúp kiểm soát đường-huyết tốt hơn. Tất nhiên trước khi tập luyện thể lực, thai phụ cần được thăm khám và tư vấn đầy đủ bởi các bác sĩ sản khoa và nội tiết.

8.2. Dùng thuốc kiểm soát đường huyết 

Trong trường hợp đường-huyết vẫn còn cao, không được kiểm soát tốt với chế độ dinh dưỡng và tập luyện thể lực, hoặc hình ảnh thai nhi trên siêu âm to hơn bình thường, các bác sĩ nội tiết sẽ cho dùng thuốc để kiểm soát đường-huyết.

Thuốc thường dùng là insulin dạng tiêm (tùy theo từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp). Thai phụ bị ĐTĐTK nên biết cách tự theo dõi đường – huyết tại nhà. Bác sĩ nội tiết sẽ tư vấn cách thử đường – huyết, thời gian thử đường-huyết và các mục tiêu đường-huyết cần đạt được trong quá trình điều trị cho từng cá nhân cụ thể.

7. Theo dõi sau sinh 

Thai phụ nên được làm nghiệm pháp dung nạp glucose vào khoảng thời gian từ 6-12 tuần sau khi sinh nhằm phát hiện tình trạng rối loạn dung nạp glucose còn  tiếp tục  xảy  ra. Thai  phụ  đã từng  bị ĐTĐTK sẽ có nguy cơ bị đái tháo đường thực sự trong tương lai, do đó cần có chế độ dinh dưỡng và tập luyện hợp lý, giữ cân nặng lý tưởng, nhằm giúp ngăn ngừa đái tháo đường trong tương lai và nên được tầm soát đái tháo đường định kỳ hàng năm. Trẻ ngay sau khi sinh sẽ được thử đường-huyết và điều trị ngay khi có bất thường.

Như vậy, mặc dù ĐTĐTK đang ngày một gia tăng và có nhiều ảnh hưởng đến thai phụ và thai nhi, chúng ta vẫn hoàn toàn có thể phòng ngừa  và  phát  hiện sớm, thông qua việc khám thai định kỳ và tầm soát ĐTĐTK dựa trên việc đánh giá các yếu tố nguy cơ, thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose.  Khi  phát hiện sớm ĐTĐTK, các bác sĩ sản khoa và nội tiết sẽ cùng phối hợp để có hướng điều trị thích hợp, kiểm soát đường-huyết tối ưu nhằm ngăn ngừa các biến chứng của bệnh cho cả mẹ và con.

Các thuật ngữ chuyên môn Việt – Anh được sử dụng trong bài:

Chứng thai nhi quá to (Fetal macrosomia),

Đái tháo đường thai kỳ (Gestational diabetes),

Đái tháo đường tiền thai kỳ (Pregestational diabetes),

Đề kháng insulin (Insulin resistance),

Nghiệm pháp dung nạp glucose (Glucose tolerance test),

Nhau thai (Placenta).

BS Trần Minh Triết – Khoa Nội Tiết – Đại học Y Dược TPHCM

Trích Tạp chí “Sống khỏe” số 18 – Bệnh viện Đại học  Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 

(Visited 6 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *