Tại sao phụ nữ có thai cần chú ý tới đái tháo đường thai kỳ?

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang ngày một gia tăng cùng với sự gia tăng của béo phì và Đái tháo đường tuýp 2. Theo số liệu thống kê từ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh của Hoa Kỳ thì tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên toàn thế giới là khoảng 9,2% và theo ước tính của Liên đoàn Đái Tháo Đường Thế Giới là khoảng  15%.

Đái tháo đường thai kỳ là gì?

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đái tháo đường thai kỳ (tiếng Anh: gestational diabetes mellitus) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose được khởi phát khi mang thai, nghĩa là lượng đường trong máu sẽ cao hơn mức bình thường, đặc biệt xảy ra từ tuần từ 24-28 của thai kỳ.

Theo nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ tăng theo độ tuổi, gặp chủ yếu ở những người trên phụ nữ 45 tuổi.

Người ta thống kê trên thế cứ 7 em bé sinh ra có 1 trẻ mẹ bị đái tháo đường thai kỳ, chủ yếu ở những nước có nhiều hạn chế trong việc chăm sóc sức khỏe thai kỳ.

Tỷ lệ phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ tăng theo độ tuổi, gặp chủ yếu ở những người trên phụ nữ 45 tuổi

 

bị đái tháo đường khi mang thai
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang ngày một gia tăng

Ai có nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ?

  • Phụ nữ trên 25 tuổi
  • Chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 25 (tình trạng thừa cân, béo phì)
  • Gia đình có tiền sử đái tháo đường tuyp 2
  • Trước khi mang thai đã mắc tiểu đường hoặc bị rối loạn dung nạp glucose

Nguyên nhân dẫn đến đái tháo đường thai kỳ

Đối với cơ thể người bình thường, thức ăn sau khi được ăn vào sẽ được hấp thu và chuyển hóa thành glucose và lưu hành trong máu. Insulin là một nội tiết tố được bài tiết ra từ tuyến tụy. Nó có vai trò quan trọng giúp chuyển hóa glucose, đưa glucose đang lưu hành trong máu vào các tế bào để sử dụng (như cơ, não, gan…).

Khi người phụ nữ mang thai, nhau thai sẽ tiết ra nhiều nội tiết tố khác (như estrogen, cortisol, HPL) gây ảnh hưởng đến tác động của insulin, làm cho insulin không thể đưa glucose vào tế bào sử dụng và hậu quả là gây tăng glucose trong máu và đái tháo đường thai kỳ. Điều này giải thích nguyên nhân tại sao bệnh thường xuất hiện ở khoảng 3 tháng cuối thai kỳ, khi mà nhau thai đã to và tiết nhiều loại nội tiết tố.

Khi bị đái tháo đường thai kỳ có biểu hiện gì?

Khi mắc đái tháo đường thai kỳ, thời gian đầu mẹ bầu thường không phát hiện có những biểu hiện rõ ràng. Tuy nhiên, sau khoảng 3 tháng thai kỳ, sẽ thấy rõ hơn một số triệu chứng giống như người tiểu đường:

  • Sụt cân hoặc cân nặng chững lại, không tăng trưởng đều theo thai kỳ
  • Vết thương lâu lành, dễ nhiễm trùng
  • Thường xuyên thấy khát nước và đi tiểu nhiều
  • Người mệt mỏi, kiệt sức, thiểu năng lượng hoạt động
  • Mắt mờ

Xét nghiệm cần làm để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ?

Xét nghiệm 1 bước

Xét nghiệm 1 bước nhằm mục đích kiểm tra mức độ dung nạp glucose trong 2 tiếng đồng hồ. Thai phụ có thể đến các cơ sở y tế trên cả nước để làm xét nghiệm. Tuy nhiên, trong vòng 8-14 tiếng trước khi làm xét nghiệm, thai phụ cần lưu ý không được ăn, uống bất kỳ thứ gì.

Phụ nữ mang thai làm xét nghiệm sẽ được uống dung dịch có chứa 75g glucose. Sau đó, y tá sẽ lấy máu khoảng 3 lần, mỗi lần cách nhau 60 phút để kiểm tra lượng đường trong máu.

Xét nghiệm tiểu đường thai kỳ 1 bước

Giá trị đường huyết được coi là bất thường sau khi làm xét nghiệm dung nạp glucose với dung dịch 75g glucose trong 2 giờ là:

  • Đường huyết lúc đói: > 92 mg/dl (5,1 mmol/l)
  • Sau 1 giờ: > 180 mg/dl (10,0 mmol/l)
  • Sau 2 giờ: > 153 mg/dl (8,5 mmol/l)

Nếu có nhiều hơn 1 kết quả cao hơn ngưỡng cho phép thì có nghĩa là bạn đã bị tiểu đường thai kỳ. Khi đó, cần phải tham khảo và tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ về cách điều trị.

xét nghiệm đái tháo đường thai kỳ

Xét nghiệm đái tháo đường thai kỳ

Xét nghiệm 2 bước

Đối với loại xét nghiệm này, thai phụ không cần kiêng khem bất kỳ thứ gì trước khi thực hiện.

Khi đến cơ sở y tế làm xét nghiệm 2 bước, thai phụ sẽ được uống dung dịch chứa 50g glucose trong vòng 5 phút. Sau đó, chờ khoảng 1 giờ đồng hồ để lấy máu và kiểm tra đường huyết.

Nếu sau 1 giờ uống dung dịch glucose, kết quả xét nghiệm đường máu ≤ 140 mg/dl (tương ứng với 7,8 mmol/l) thì có thể kết luận bạn không bị đái tháo đường thai kỳ.

Còn đối với trường hợp có lượng đường huyết vượt qua mức 140 mg/dl thì cần phải thực hiện thêm xét nghiệm dung nạp glucose đường uống trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Cụ thể như sau:

  • Không được ăn uống bất kỳ thứ gì trong vòng 8-14 tiếng trước khi làm xét nghiệm.
  • Thai phụ không được ăn uống bất kỳ thứ gì trong 8-14 tiếng trước khi thực hiện xét nghiệm.
  • Sau đó, thai phụ sẽ được uống dung dịch chứa 100g glucose
  • Sau khi đã uống dung dịch chứa 100g glucose, y tá sẽ tiến hành lấy máu khoảng 3 lần, mỗi lần cách nhau 60 phút để kiểm tra nồng độ đường huyết.

Giá trị đường huyết được coi là bất thường sau khi thực hiện xét nghiệm dung nạp glucose với dung dịch chứa 100g glucose là:

  • Đường huyết lúc đói: 95 mg/dl (5,3 mmol/l)
  • Sau 1 giờ: > 180 mg/dl (10,0 mmol/l)
  • Sau 2 giờ: > 155 mg/dl (8,6 mmol/l)
  • Sau 3 giờ: > 140 mg/dl (7,8 mmol/l)

Nếu kết quả xét nghiệm có nhiều hơn 1 kết quả cao vượt ngưỡng cho phép thì có thể chẩn đoán bị tiểu đường thai kỳ. Lúc này, bạn nên tham khảo kỹ ý kiến bác sĩ về chế độ ăn uống, tập luyện cũng như phương pháp điều trị giúp kiểm soát bệnh.

Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ khi nào?

Nếu thai phụ có một trong các yếu tố nguy cơ trên sẽ được xếp vào nhóm nguy cơ cao và cần được tầm soát đái tháo đường thực sự ngay lần khám thai đầu tiên: xét nghiệm đường huyết đói, HbA1c hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose.

Tất cả những thai phụ có nguy cơ cao nhưng chưa phát hiện được đái tháo đường ở lần tầm soát đầu tiên và tất cả những thai phụ trên 25 tuổi sẽ được thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose vào tuần thứ 24-28 để xác định hay loại trừ đái tháo đường thai kỳ

Đái tháo đường thai kỳ nguy hiểm như thế nào?

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng như thế nào đến mẹ?

Đái tháo đường thai kỳ thường có ít triệu chứng nhưng nếu không điều trị tốt có thể gây ra các biến chứng cho người mẹ như: cao huyết áp, tiền sản giật, nhiễm trùng, sinh non, tăng tỷ lệ phải mổ lấy thai, khoảng 20 – 50% phụ nữ với tiền sử bị ĐTĐTK có nguy cơ bị rối loạn dung nạp glucose và bị đái tháo đường típ 2 trong vòng 10 năm sau sinh. Tuy nhiên, đối với những phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ mà vẫn giữ được cân nặng lý tưởng sau sinh thì cuối cùng tỷ lệ phát triển thành đái tháo đường típ 2 sẽ thấp dưới 25%.

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng như thế nào đến thai?

Đái tháo đường thai kỳ thường ảnh hưởng đến người mẹ ở 3 tháng cuối thai kỳ, khi đó thai nhi đang lớn nhanh. Vì vậy, thường không gây ra các loại khuyết tật như cho các trẻ sơ sinh khác của các bà mẹ đã bị đái tháo đường trước khi mang thai.

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng như thế nào đến thai?

Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng như thế nào đến thai?

Tuy nhiên, bệnh không được điều trị hay kiểm soát không tốt có thể gây tác hại cho thai. Khi đường huyết ở mẹ tăng quá cao, glucose sẽ đi qua nhau thai và gây tình trạng dư thừa năng lượng ở thai nhi. Hậu quả là thai nhi to hơn bình thường (macrosomia) và gây nhiều biến chứng trong lúc sanh mà biến chứng thường gặp nhất là sinh khó do kẹt vai. Trẻ sơ sinh sau khi sinh không còn nhận lượng đường huyết dư thừa từ mẹ, do đó dễ bị hạ đường huyết sau khi sanh, hoặc một vài biến chứng khác như vàng da, suy hô hấp… Về lâu dài, trẻ có thể thừa cân và có nguy cơ bị đái tháo đường tuýp 2.

Đái tháo đường thai kỳ nên ăn uống và luyện tập như thế nào?

Dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai, đặc biệt là phụ nữ mắc đái tháo đường. Nếu tuân thủ chế độ ăn uống khoa học có thể giúp bạn kiểm soát đái tháo đường thai kỳ và giúp nuôi dưỡng thai nhi phát triển khỏe mạnh.

Phụ nữ mang thai bị đái tháo đường được khuyến nên lập thực đơn ăn uống hằng ngày để có thể kiểm soát lượng tinh bột và năng lượng hằng ngày nạp vào cơ thể. Tránh ăn uống không kiểm soát, tùy hứng sẽ làm đường huyết dao động lên xuống thất thường.

Để xây dựng được chế độ ăn đái tháo đường thai kỳ hiệu quả, mẹ bầu cần lưu ý một số điều sau:

  • Chia nhỏ các bữa ăn: phân chia bữa ăn chính và bữa ăn nhẹ điểm tâm với khoảng thời gian đều đặn (cách nhau khoảng 2-3 giờ). Để đường huyết được duy trì đều, không dao động nhiều thì cần bổ sung lượng tinh bột vừa phải trong suốt cả ngày.
  • Bữa ăn bao gồm đầy đủ các nhóm chất, đặc biệt chất đạm và chất xơ, giúp bạn có năng lượng cho cả ngày làm việc và kiểm soát được đường huyết.
  • Bữa ăn nhẹ điểm tâm nên chọn thực phẩm dễ tiêu hóa, hạn chế đường như sữa chua không đường, sữa tươi không đường, sữa đậu nành không đường,…
  • Đường huyết có xu hướng tăng cao vào buổi sáng đối với những người bị đái tháo đường thai kỳ. Do đó nên hạn chế tinh bột vào bữa ăn sáng thay vào đó là bổ sung một số chất đạm.
  • Phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ nên hạn chế ăn thực phẩm chứa nhiều muối, các thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh ướp muối bảo quản,…
  • Bổ sung đầy đủ nước cho cơ thể. Nên uống 6-8 ly nước mỗi ngày sẽ rất tốt cho sức khỏe mẹ bầu.

Nếu như bạn đã thực hiện chế độ dinh dưỡng khoa học và hoạt động thể lực phù hợp mà vẫn không kiểm soát được đường huyết thì cần có sự can thiệp điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Khi bị Đái tháo đường thai kỳ dùng thuốc gì?

Loại thuốc

Dùng thuốc kiểm soát đường huyết: Thuốc thường dùng là insulin dạng tiêm (tùy theo từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp). Thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ nên biết cách tự theo dõi đường huyết tại nhà. Bác sĩ nội tiết sẽ tư vấn cách thử đường huyết, thời gian thử đường-huyết và các mục tiêu đường huyết cần đạt được trong quá trình điều trị cho từng cá nhân cụ thể.

Xem thêm: Thuốc Insulin trong điều trị đái tháo đường

Khi nào cần dùng thuốc

Trong trường hợp đường huyết vẫn còn cao, không được kiểm soát tốt với chế độ dinh dưỡng và tập luyện thể lực, hoặc hình ảnh thai nhi trên siêu âm to hơn bình thường, các bác sĩ nội tiết sẽ cho dùng thuốc để kiểm soát đường huyết.

Thuốc và dược liệu có tác dụng trong điều trị tiểu đường

Tìm kiếm bác sĩ tư vấn trực tiếp

Để lại bình luận hoặc câu hỏi của bạn

Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận