Hậu quả của đề kháng kháng sinh

06/11/2018

Đề kháng kháng sinh là một mối đe dọa sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là bệnh nhân nhập viện và những hậu quả về sức khỏe và tài chính.

1. Các con đường dẫn đến sự đề kháng kháng sinh

Thay đổi đích tác động do một protein cấu trúc hoặc do một nucleotide trên tiểu phần 30S hoặc 50S của ribosom bị thay đổi làm cho kháng sinh không gắn được vào đích để phát huy tác dụng. Ví dụ: đề kháng macrolide, tetracycline, chloramphenicol, streptomycin do thay đổi ở ribosom; thay đổi đích gắn penicillin – penicillin binding proteins (PBPs) dẫn đến đề kháng β-lactam.

– Tạo ra enzyme để biến đổi cấu trúc phân tử kháng sinh (như các Ophosphotransferase, N-acetyltransferase biến đổi phân tử aminoglycosid hoặc chloramphenicol acetyltransferase) hoặc enzym phá hủy cấu trúc phân tử kháng sinh như các β -lactamase.

4 con đường dẫn tới đề kháng kháng sinh

4 con đường dẫn tới đề kháng kháng sinh (Ảnh: Internet)

– Làm giảm tính thấm của màng bào tương và vách/màng ngoài. Hậu quả là kháng sinh không thấm được vào tế bào vi khuẩn. Ví dụ: đề kháng tetracyclin, oxacilin-gen đề kháng tạo ra một protein đưa ra màng, ngăn cản kháng sinh ngấm vào tế bào; hoặc làm mất khả năng vận chuyển qua màng như đề kháng streptomycin hoặc tăng hoạt động của hệ thống bơm (efflux) đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào.

– Tạo ra các isoenzyme không có ái lực với kháng sinh nữa, ví dụ đề kháng sulfamid, trimethoprim.

2. Cơ chế lan truyền gen đề kháng

Một vi khuẩn có gen đề kháng, nó sẽ truyền dọc (vertical) hoặc truyền ngang (horizontal) thông qua các hình thức vận chuyển di truyền.

– Trong tế bào: thông qua biến cố tái tổ hợp hoặc chuyển vị trí của transposon, gen đề kháng truyền từ phân tử AND này sang phân tử AND khác trong một tế bào.

– Giữa các tế bào: thông qua các hình thức vận chuyển di truyền tiếp hợp, biến nạp và tải nạp, gen đề kháng truyền từ tế bào này sang tế bào kia trong cùng một loài hay khác loài.

– Trong quần thể VSV: thông qua sự chọn lọc dưới tác dụng của kháng sinh, các dòng vi khuẩn đề kháng được chọn lọc và phát triển thay thế các dòng vi khuẩn nhạy cảm.

3. Hậu quả của kháng thuốc kháng sinh

Tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong

Đề kháng kháng sinh tăng cao dẫn tới các bệnh như viêm phổi, bệnh lao hoặc nhiễm trùng nhẹ có thể trở nên không thể chữa được. Điều này sẽ làm tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe. Nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc có thể kháng với nhiều hơn một loại kháng sinh, trong khi rất ít thuốc kháng sinh mới đang được phát triển.

Đề kháng kháng sinh dẫn đến các vấn đề sau:

  • Gia tăng bệnh tật, tử vong ở người
  • Gia tăng chi phí, thời gian điều trị
  • Tăng tác dụng phụ từ việc sử dụng nhiều loại kháng sinh mạnh
  • Gia tăng nhu cầu chăm sóc đặc biệt, sử dụng các thiết bị xâm lấn, phẫu thuật.
  • Suy giảm sức đề kháng của bệnh nhân, dễ mắc các bệnh cộng đồng, bệnh viện.
  • Cần cách ly đặc biệt

Tăng chi phí chăm sóc sức khỏe, thời gian điều trị

Đề kháng kháng sinh làm tăng chi phí, thời gian điều trị, là một gánh nặng đáng lo ngại đối với gia đình và hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe. Khi lựa chọn kháng sinh first-line second-line bị hạn chế hoặc không có sẵn, hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe bắt buộc phải sử dụng các loại kháng sinh đắt tiền hơn, độc tính cao hơn cho bệnh nhân. Ngay khi có hiệu quả điều trị tốt thì các bệnh nhân đề kháng kháng sinh cần phải nằm viện lâu dài hơn, hồi phục lâu hơn và tỷ lệ mắc phải các bệnh cộng đồng/bệnh viện cũng cao hơn.

Những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn đề kháng kháng sinh cần có sự chăm sóc, giường bệnh đặc biệt, cần các dịch vụ hỗ trợ xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh. Ngoài ra, bệnh nhân còn cần phòng bệnh cách ly, các vật tư tiêu hao nhiều (găng tay, áo choàng). Điều đó dẫn tới việc tăng chi phí điều trị cao hơn bình thường. Hơn thế nữa, bệnh viện còn tốn thêm chi phí cho các chương trình kiểm soát nhiễm trùng sàng lọc và cách ly.

Thay đổi hướng dẫn kháng sinh

Đề kháng kháng sinh sẽ dẫn tới các kháng sinh phổ hẹp không còn tác dụng, không được sử dụng. Qua đó, phác đồ điều trị theo kinh nghiệm của các bệnh như nhiễm Hp,.. cũng sẽ thay đổi. Hơn thế, kháng sinh phổ rộng, đắt tiền sẽ được sử dụng, làm tăng thêm độc tính cho bệnh nhân.

Giảm hoạt động bệnh viện

Sự đề kháng kháng sinh gia tăng làm cho các cơ sở chăm sóc y tế không còn thuốc kháng sinh để cứu chữa kịp thời. Điều đó dẫn tới hàng loạt hoạt động bệnh viện xảy ra như đóng cửa bệnh viện hoặc hủy phẫu thuật vì không còn kháng sinh dự phòng hiệu quả.

DS. Nguyễn Thị Bạch Tuyết

(Visited 56 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *