Lạm dụng kháng sinh làm giảm sức đề kháng của trẻ?

15/12/2018

Thuốc kháng sinh được sử dụng rất nhiều trong việc điều trị bệnh ở trẻ. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc kháng sinh gây nên rất nhiều hệ lụy khó lường cho sức khỏe của trẻ. 

1. Lạm dụng kháng sinh làm giảm sức đề kháng của trẻ?

Thuốc kháng sinh dùng để tiêu diệt và ngăn ngừa vi khuẩn phát triển. Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp với nồng độ rất thấp . Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử. Thường là tác động lên một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn. 

Việc lạm dụng thuốc kháng sinh thành thói quen và phổ biến ví dụ như việc sử dụng kháng sinh khi không có nhiễm khuẩn làm cho các vi khuẩn có lợi của cơ thể bị tiêu diệt. Điều này tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh kháng lại với kháng sinh. Vi khuẩn sau khi tiếp xúc với một loại kháng sinh, một số bị tiêu diệt, một số có thể thay biến đổi để trở nên kháng kháng sinh đó. Ngay khi có sự đề kháng xuất hiện, nó sẽ lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác, tạo nên một quần thể vi khuẩn kháng kháng sinh và từ đó việc dùng kháng sinh trong những lần sau có thể không có kết quả hoặc ít hiệu quả. 

2. Hiểm họa từ lạm dụng kháng sinh

2.1. Gây hại cho các khuẩn thân thiện

Thực tế, kháng sinh có phổ rộng tiêu diệt cả vi khuẩn xấu và tốt. Vì vậy nếu dùng không đúng hướng dẫn và chỉ định, lạm dụng kháng sinh trong các trường hợp này sẽ tiêu diệt cả khuẩn có lợi có trong đường ruột, làm mất cân bằng của cơ thể. Một khi bị mất cân bằng dễ phát sinh nhiều bệnh nan y, như rối loạn dạ dày, làm cho các chứng bệnh nghiêm trọng hơn và làm giảm hiệu quả của thuốc kháng sinh.

2.2. Tăng nguy cơ mắc bệnh tự miễn đường ruột 

Bệnh tự miễn xảy ra một khi hệ miễn dịch cơ thể không làm đúng chức năng. Lạm dụng kháng sinh trong một thời gian dài có thể phá vỡ sự cân bằng này, gây ảnh hưởng đến hệ miễn dịch.  Tổn thương có thể dẫn đến rối loạn tự miễn hoặc phát sinh bệnh mạn tính hoặc nhiễm trùng. 

 2.3. Gia tăng bệnh hen suyễn, dị ứng

Hen suyễn là căn bệnh nguy hiểm,có thể đe dọa tính mạng nếu không được kiểm soát và điều trị kịp thời. Đặc biệt là trong trường hợp tiếp xúc quá nhiều chất kích thích. Theo nghiên cứu công bố năm 2009, lạm dụng kháng sinh dễ làm tăng nguy cơ gây bệnh hen suyễn, bệnh viêm mũi màng kết và eczema ở trẻ em nhóm tuổi đi học. 

2.4. Gây tổn thương gan

Một số kháng sinh có thể gây tổn thương gan nếu dùng quá liều và dàì hạn. Cần đánh giá chức năng gan trước khi sử dụng các kháng sinh được chuyển hóa qua gan. Ví dụ như kháng sinh Azithromycin, loại thuốc kháng sinh được dùng phổ biến, nhưng cũng rất dễ gây tổn thương gan. Hai tuần sau khi điều trị kháng sinh nên làm các xét nghiệm chức năng gan, sẽ thấy được những bất thường liên quan đến sức khỏe gan.

2.5. Tăng nguy cơ ung thư

Các nhà khoa học Phần Lan đã phát hiện ra sử dụng kháng sinh trong thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, phổi, ruột kết, buồng trứng, nội tiết, da, tuyến giáp và ung thư thận cao gấp 1,5 lần so với nhóm không dùng kháng sinh, đối với nhóm cả nam giới lẫn phụ nữ sau khi so sánh dữ liệu của người sử dụng kháng sinh dài kỳ với bệnh nhân ung thư đã phát hiện

2.6. Tăng cân

Theo các nghiên cứu được thực hiện và công bố năm 2014 và 2015, khoa học phát hiện thấy sử dụng thuốc kháng sinh liên quan đến tăng cân ở nhóm trẻ sơ sinh và lẫm chẫm biết đi. Với lưu ý trên, khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào cho trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ cần tham khảo, tư vấn bác sĩ cẩn thận, tránh lạm dụng, nhất là thuốc kháng sinh.

3. Hướng dẫn sử dụng đúng kháng sinh 

Nguyên tắc quan trọng nhất trong sử dụng kháng sinh là theo đúng chỉ định của bác sĩ, theo đúng đơn thuốc. Ngoài ra cũng nên lưu ý một số nguyên tắc như sau:

3.1. Thời điểm uống thuốc

Để thuốc tác dụng tối đa, trừ một số kháng sinh có tác dụng không mong muốn ở đường tiêu hóa thì mới uống vào lúc no, nên uống thuốc vào lúc đói như uống thuốc xa bữa ăn. Thời điểm uống kháng sinh tùy thuộc vào từng loại kháng sinh, cần tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ. 

3.2. Liều lượng và thời gian dùng thuốc

– Trường hợp tương đối khá phổ biến là bệnh nhân dùng thuốc một vài ngày, dù chưa hết liều nhưng thấy bệnh đỡ nên tự ý giảm liều hoặc ngừng thuốc. Bệnh nhân lưu ý không nên tự ý tăng hay giảm liều, nhất là giảm liều sẽ làm cho kháng sinh tác dụng không đầy đủ và gây nên kháng thuốc, tăng liều có thể gây nên đọc tính của kháng sinh. Liều lượng thuốc hàng ngày phải được dùng đúng theo chỉ định của bác sĩ

– Thời gian sử dụng thuốc kháng sinh cũng phải đảm bảo đúng quy định. Thông thường kháng sinh được dùng từ 7 đến 10 ngày. Một số loại kháng sinh có thể được chỉ định dùng trong 5 ngày. Có loại dùng trong 3 ngày như thuốc azithromycin chỉ dùng trong 3 ngày là đủ liều. Cũng có những trường hợp kháng sinh được dùng nhiều ngày hơn để điều trị tỉnh trạng nhiễm trùng huyết, bệnh lao, bệnh thương hàn, bệnh giang mai…

3.3. Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc

Trước khi dùng một loại kháng sinh nào đó, người bệnh nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng để biết các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra. Khi có tác dụng không mong muốn xảy ra, nên thông báo cho bác sĩ biết để được tư vấn cách  xử trí hoặc đến trung tâm y tế gần nhất.

3.4. Theo dõi các phản ứng dị ứng của thuốc

– Phản ứng dị ứng nguy hiểm nhất là sốc phản vệ thường xảy ra với nhóm thuốc betalactam. Phản ứng được biểu hiện bằng dấu hiệu tím tái, đau bụng dữ dội, khó thở, da nổi vân tím. Bệnh nhân nhanh chóng bị rơi vào tình trạng trụy tim mạch và tử vong nếu không được điều trị tích cực tại bệnh viện. Cách phòng tránh hiệu quả nhất là hỏi tiền sử dị ứng thuốc trước đây của bệnh nhân và test dị ứng nếu lần đầu bệnh nhân sử dụng kháng sinh. Nếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất cứ thuốc nào của nhóm thuốc betalactam thì không được dùng thuốc của nhóm này.

– Các phản ứng dị ứng khác được biểu hiện bằng triệu chứng sốt, nổi sẩn đỏ ngoài da, viêm da cấp tính như hội chứng Steven-Johnson, hội chứng Lyell; phù Quinck, ngứa mắt, khó thở, lên cơn hen suyễn… Nếu có xảy ra, ngừng ngay thuốc đang dùng và đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị.

3.5. Theo dõi các biến chứng hay tai biến do độc tính của thuốc kháng sinh

Khi sử dụng một số loại thuốc kháng sinh, người bệnh có thể bị các biến chứng hay tai biến do độc tính của thuốc, vì vậy cần theo dõi để cung cấp thông tin cho bác sĩ xử trí như:

  • Tổn thương thần kinh thính giác do dùng thuốc streptomycine hoặc một số thuốc kháng sinh nhóm aminoglycosid;
  • Tổn thương thần kinh thị giác do sử dụng cloramphenicol kéo dài;
  • Viêm đa rễ thần kinh do sử dụng rimifon kéo dài

4. Một số biện pháp thay thế kháng sinh trong những trường hợp bệnh cho phép.

Các thảo dược vốn an toàn hơn và được khuyến khích sử dụng bởi vậy trong một số trường hợp, chúng ta có thể sử dụng các thảo dược thay thế kháng sinh

 Tỏi vừa là thực phẩm, gia vị và cũng có tác dụng tương tự kháng sinh, nhất là trong trường hợp ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn.

Một số thảo dược thay cho ibuprofen, như cao khô vỏ cây liễu trắng (white willow bark), cây móng mèo (cats claw – thảo dược ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ), Boswellia (thảo mộc có khả năng kháng viêm, điều chế từ phần nhựa của cây boswellia, loại cây bản địa ở Ấn Độ.

Nhựa của các loài cây này có mùi hương được cho rằng ngăn chặn leukotrienes, hóa chất gây hại tế bào khớp khỏe mạnh. Capsaicin (hoạt chất chiết từ quả chín khô của một số loài ớt), curcumin (thành phần chính của curcuminoit, có trong củ nghệ) và các loại dầu thơm…

DS Kim Huyền Trang

Theo Nội khoa Việt Nam 

(Visited 7 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *