Nguyên tắc và các phương pháp điều trị lupus ban đỏ hiện nay

Lupus ban đỏ là bệnh tự miễn nguy hiểm, khi cơ thể tự sản xuất kháng thể chống lại các mô cơ quan ở chính cơ thể mình. Do vậy, người bệnh cần đi thăm khám bác sĩ để có phác đồ điều trị lupus ban đỏ phù hợp, dự phòng biến chứng và giảm tác dụng không mong muốn của thuốc.

1. Nguyên tắc điều trị lupus ban đỏ

Lupus ban đỏ (lupus ban đỏ hệ thống) không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu điều trị đúng.

Nếu không được kiểm soát, lupus ban đỏ có thể tiến triển và gây ra những tổn thương nặng nề ở hầu hết các cơ quan nội tạng. Như tại tim có thể xuất hiện tràn dịch màng tim, viêm cơ tim. Tại phổi có thể gây tràn dịch màng phổi, viêm phổi. Tại thận có thể gây viêm cầu thận. Xuất hiện co giật, rối loạn tâm thần tại hệ thần kinh. Hay bệnh nhân có thể bị thiếu máu, xuất huyết.

Do vậy, nguyên tắc chính trong việc điều trị lupus ban đỏ là giảm thiểu triệu chứng và hạn chế các biến chứng.

Hình ảnh: Lupus ban đỏ (Internet)
Hình ảnh: Lupus ban đỏ (Internet)

2. Phương pháp điều trị lupus ban đỏ hiện nay

Ở người bệnh lupus ban đỏ, các triệu chứng thường xuất hiện từng đợt và xen kẽ với thời gian lui bệnh. Trong giai đoạn đầu, các biểu hiện thường khá mơ hồ và dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh lý khác. Nên để xác định chính xác bệnh thường mất khoảng vài năm kể từ khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên.

Do lupus ban đỏ gây ảnh hưởng trên nhiều cơ quan nên bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc. Mặt khác, ở mỗi bệnh nhân, mỗi cơ quan lại có mức độ tổn thương khác nhau. Do vậy mà bệnh nhân cần có sự tư vấn và theo dõi từ bác sĩ để sử dụng đúng loại thuốc với liều lượng thay đổi phù hợp.

Thuốc ức chế miễn dịch

Do lupus ban đỏ là bệnh tự miễn. Cơ thể sẽ sản sinh kháng thể chống lại chính mình. Do vậy, thuốc ức chế miễn dịch được dùng để ức chế quá trình này. Sức đề kháng của cơ thể suy giảm và dễ nhiễm khuẩn hơn. Để hạn chế tác dụng phụ, cần căn cứ vào tình trạng cơ quan để lựa chọn thuốc phù hợp như:

  • Methotrexat: làm giảm các tổn thương ở khớp, da và niêm mạc. Kể cả các trường hợp không đáp ứng với glucocorticoid, chống sốt rét chloroquin.
  • Thalidomid: giảm các tổn thương dai dẳng ở da khi các thuốc khác không đáp ứng.
  • Mecophenolatmofetyl: giảm hầu hết các triệu chứng nặng, đặc biệt là các tổn thương ở thận. Có tác dụng cả khi các thuốc khác không đáp ứng. Ít tác dụng phụ.
  • Cyclophosphamid (endoxan): giảm triệu chứng protein niệu, giảm creatinin máu. Cải thiện các triệu chứng trên thận. Thường dùng với liều thấp (100mg/ngày). Khi bệnh tương đối ổn định thì thay thế bằng azathiopin ít độc hơn.
  • Cyclosporin A; Dapson (diaminodiphenylsulfon);…

Glucocorticoid

Tùy tình trạng của bệnh nhân mà thay đổi liều dùng hay phối hợp thuốc cho phù hợp.

  • Trường hợp nhẹ: dùng một mình glucocorticoid hoặc phối hợp với thuốc chống sốt rét chloroquin (hay thuốc giảm đau, kháng viêm). Với mục đích làm giảm triệu chứng và ngăn các đợt cấp bùng phát.
  • Trường hợp vừa: dùng phối hợp glucocorticoid với thuốc chống sốt rét chloroquin (hay thuốc giảm đau, kháng viêm). Nhưng dùng glucocorticoid với liều cao hơn.
  • Trường hợp nặng: phối hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch.

Khi cơ quan nội tạng (phổi, thận, tim mạch, máu..) bị tổn thương nặng, có thể truyền tĩnh mạch glucocorticoid liều cao trong thời gian ngắn.

Thuốc chống sốt rét chloroquin

Chloroquin giúp làm giảm tổn thương khớp, da (sau 3 tuần hay vài tháng). Thường phối hợp với corticoid hay kháng viêm không steroid. Có khi kết hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch. Nên chọn dạng hydrochloroquin để hạn chế tác dụng phụ do người bệnh thường phải dùng trong khoảng thời gian dài.

DS Thu Trang

Theo Nội khoa Việt Nam

 

Tìm kiếm bác sĩ tư vấn trực tiếp

Để lại bình luận hoặc câu hỏi của bạn

Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận