Những điều cần biết về chửa ngoài tử cung

06/04/2018

Bình thường, sau khi được thụ tinh ở 1/3 ngoài của vỏ trứng hay vòi tử cung, trứng sẽ di chuyển từ vòi trứng vào buồng tử cung để làm tổ và phát triển thành thai nhi và các phần phụ của thai như bánh rau, màng rau, dây rau và nước ối.

Chửa ngoài tử cung là các trường hợp trứng làm tổ và phát triển ở ngoài buồng tử cung do các nguyên nhân khác nhau ngăn cản sự di chuyển của trứng về buồng tử cung. Do các vị trí ở ngoài buồng tử cung không đủ điều kiện để trứng làm tổ và phát triển, nên sau một thời gian, thường từ 4-8 tuần sẽ gây ra các biến chứng, hay gặp nhất là chay máu do vỡ khối chửa ngoài tử cung và có thểt đe dọa tính mạng thai phụ nếu không xử lý kịp thời.

Tần suất chửa ngoài tử cung là 1/100 hợp thai nghén và 75% được chẩn đoán trước tuổi thai 12 tuần. Ít nhất 90% chửa ngoài tử cung gặp ở vòi trứng và hơn 50% xảy ra với vòi trứng bên phải. Chửa ngoài tử cung có thể gặp ở bất kỳ thời điểm nào trong đời sống hoạt động sinh sản của người phụ nữ, kể từ khi bắt đầu hành kinh cho đến khi mãn kinh, nhưng 40% trường hợp xảy ra ở phụ nữ lứa tuổi từ 20 đến 29. Những phụ nữ bị vô sinh, có tiền sử chửa ngoài tử cung, viêm phần phụ, phẫu thuật tạo hình vòi trứng có tần suất chửa ngoài tử cung cao hơn.Trong số phụ nữ chấp nhận biện pháp tránh thai bằng dụng cụ tử cung, đặc biệt là dụng cụ tử cung có chứa Progestasert cũng có tỉ lệ chửa ngoài tử cung cao hơn  những người không đặt dụng cụ tử cung.

  1. Nguyên nhân

Nguyên nhân gây ra chửa ngoài tử cung được chia làm 3 nhóm:

Thứ nhât là nguyên nhân tử vòi trứng như viêm dính vòi trứng do viêm phần phụ, các bất thường bẩm sinh của vòi trứng, các phẫu thuật tại vòi trứng (tạo hình vòi trứng, thắt vòi trứng, phẫu thuật bảo tồn vòi trứng trong chửa ngoài tử cung chưa vỡ), dính bên ngoài vòi trứng sau viêm phúc mạc, ghép thận các khối u của tiểu khung, vòi trứng quá dài hoặc bị xoắn, co bóp và nhu động bất thường của vòi trứng.

Nhóm thứ hai là các nguyên nhân do buồng trứng bao gồm sự thụ tinh xảy ra ngay tại buồng trứng, làm tổ sớm bất thường của trứng trên bề mặt buồng trứng hoặc do sự di chuyển quá xa của noãn trưởng thành từ buồng trứng bên này sang vòi trứng bên kia do vòi trứng bên đó đã bị cắt hoặc bị tắc hoàn toàn. Nhóm thứ ba là các nguyên nhân khác như lạc nội mạc tử cung, sẩy thai ở vòi trứng, các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản…

  1. Phân loại

Phân loại chửa ngoài tử cung theo vị trí trứng làm tổ và phát triển gồm:

Chửa ở vòi trứng có thể gặp ở  4 vị trí của vòi trứng là chửa ở đoạn kẽ, đoạn eo, đoạn bóng và loa vòi trứng.

Chửa ở cổ tử cung.

Chửa ở buồng trứng nguyên phát hay thứ phát.

Chửa trong ổ bụng nguyên phát hay thứ phát.

Chửa ngoài tử cung kết hợp với chửa trong tử cung.

  1. Tiến triển

Một tiến triển quan trọng cần biết trong chửa tử cung là thiếu khả năng đáp ứng phù hợp của tổ chức cơ thể tại vị trí trứng làm tổ hoặc phát triển. Do niêm mạc vòi trứng và các  lớp cơ vòi trứng mỏng, không cung cấp đủ lượng máu để nuôi dưỡng trứng phát triển, vì vậy khi trứng càng phát triển thì gai rau càng ăn sâu vào lớp cơ của vòi trứng và gây chảy máu. Mặt khác, vòi trứng cũng không thể giãn to để đáp ứng được sự phát triển của trứng nên sẽ dẫn đến vỡ vòi trứng. Tùy theo vị trí khác nhau ở vòi trứng của chửa ngoài tử cung khác nhau. Khối chửa ngoài tử cung ở đoạn eo vòi trứng thường vỡ khi thai được 6-8 tuần, ở đoạn bóng vòi trứng sẽ vỡ khi thai được 8-12 tuần, ở đoạn kẽ của vòi trứng thai có thể phát triển đến 4 tháng. Một hình thái đặc biệt là khối chửa ngoài tử cung có thể bị bong rau và sẩy thai trong vòi trứng, máu chảy ra và đọng lại trong vòi trứng tạo thành khối tụ máu vòi trứng. Lượng máu trong vòi trứng có thể rỉ dần qua loa vòi trứng, chảy vào ổ bụng và đọng ở túi cùng Donglas, sau đó sẽ tạo thành khối huyết tụ. Nếu để lâu, khối máu tụ đó tạo thành vỏ và có các tạng trong ổ bụng như ruột, mạc nối lớn dính vào tạo thành khối huyết tụ thành nang.

Khi khối tụ ngoài tử cung bị vỡ, máu chảy vào trong ổ bụng gây ra tình trạng chảy máu trong, choáng mất máu, có thể gây ra tử vong nếu không điều trị kịp thời. Đó là hình thái chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ổ bụng.

Chửa trong ổ bụng hiếm gặp, chỉ có tỉ lệ 1/15000 trường hợp thai nghén, tỉ lệ thai nhi tử vong là 90%. Tiến triển thường là tạo thành một khối thai không xác định được rõ ràng hình thể do rau thai bán chặt vào ruột, mạc nối và các tạng trong ổ bụng. Có thể trở thành khối áp xe trong ổ bụng nếu các phần thai bị nhiễm khuẩn hoặc tạo thành đám vôi hóa nếu như thai chết và teo đét lại.

  1. Hình thái lâm sàng

Có 4 hình thái lâm sàng của chửa ngoài tử cung thường gặp theo diễn biến lâm sàng:

Chửa ngoài tử cung chưa vỡ.

Chữa ngoài tử cung vỡ gây nụt máu ổ bụng.

Huyết tụ thành nang.

Chửa trong ổ bụng.

Chửa ngoài tử cung - Những điều cần biết. (Ảnh: Internet)

Chửa ngoài tử cung – Những điều cần biết. (Ảnh: Internet)

  1. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán

Toàn thân: Khi chửa ngoài tử cung chưa vỡ thì không có triệu trứng gì đặc biệt. Có biểu hiện thiếu máu nhẹ do chảy máu qua đường âm đạo hoặc trong thẻ huyết tụ thanh nang. Thai phụ có biểu hiện choáng mất máu trong trường hợp chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ổ bụng như vã mồ hôi, chân tay lạnh, da và niêm mạc nhợt, khát nước, mạch nhanh, huyết áp tụt xuống 90/60 mhg.

Triệu trứng cơ năng

Biểu hiện có thai: chậm kinh và nghén.

Triệu trứng của thai bất thường:

Ra máu âm đạo huyết một, sẫm màu, ra từng đợt hoặc kéo dài sau một vài tuần chậm kinh. Có thể ra máu âm đạo vào đúng chu kỳ kinh nguyệt nhưng thường là ra ít, máu màu nâu đen và chỉ ra 1-2 ngày là ngừng sau đó một vài tuần lại tiếp tục có các đợt ra máu khác.

Đau một trong hai hố chậu: đau âm ỉ hay đau chậm thành từng cơn. Khi chuẩn bị vỡ khối chửa ngoài tử cung thì cơn đau tăng lên cả ngoài cường độ thời gian mỗi cơn đau và tần số cơn đau. Khi khối chửa ngoài tử cung bị vỡ thì thai phụ có một cơn đau chói có thể bị ngất, sau đó hết đau và dần thai phụ đi vào tình trạng choáng mất máu.

Dấu hiêu chèn ép: táo bón hoặc đái rắt trong chửa ngoài tử cung thề huyết tụ thành nang.

Thăm khám lâm sàng

Đặt mỏ vịt bộc lộ cổ tử cung và âm đạo thấy cổ tử cung hơi tím, có máu từ trong buông tử cung chảy ra.

Khám bằng 2 tay kết hợp thấy tử cung nhỏ hơn so với tuổi thai, di động tử cung đau, có cảm giác tử cung bông bềnh trong nước và các túi cùng âm đạo đầy, đau trong trường hợp chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ổ bụng. Bên cạnh tử cung thấy có một khối, ranh giới không rõ, di động đau.

Nếu là khối huyết tụ thành nang sẽ thấy tiểu khung là một khối dính, mật độ chắc, không di động, khó xác định được đáy tử cung.

Bụng trướng, gõ đục vùng thấp, có phản ứng thành bụng và cảm ứng phúc mạc trong trường hợp chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ổ bụng.

Chọc dò túi cùng sau âm đạo hút ra máu loãng không đông khi chửa ngoài tử cung vỡ.

Các xét nghiệm

Xét nghiệm máu: số lượng hồng cầu, huyết sắc tố hematocrit giảm.

Xét nghiệm nước tiểu định tính hCG (+) urobilinogen liệu tăng hoặc đái ra huyết sắc tố.

Siêu âm ổ bụng hoặc siêu âm đầu dò âm đạo không thấy túi thai trong bùng tử cung, ngoài bùng tử cung có thấy túi ối và có thể thấy hình ảnh hoạt động của tim thai.

Nạo buồng tử cung và xét nghiệm tổ chức nạo không thấy có hình ảnh gai rau, chỉ thấy các tế bào của ngoại sản mạc do niêm mạc tử cung biến đổi thành.

Định lượng βhCG sau 48 giờ cho kết quả nồng độ βhCG không tăng gấp đôi (thai bình thường βhCG tăng gấp đôi sau 48 giờ).

Soi ổ bụng để chuẩn đoán xác định vị trí khối chửa ngoài tử cung và phẫu thuật điều trị.

  1. Điều trị

Khi đã được chẩn đoán là chửa ngoài tử cung thì phải được xử trí sớm để tránh biến trứng vỡ chửa ngoài tử cung. Nguyên tắc điều trị là phẫu thuật cầm máu, cắt bỏ khối chửa ngoài tử cung hay phẫu thuật bảo tồn. Tất cả các trường hợp chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ổ bụng, chửa ngoài tử cung chưa vỡ nhưng ở sừng tử cung hoặc chửa ngoài tử cung thể huyết tụ thành nang đều phải mổ mở lấy khối chửa ngoài tử cung, cầm máu, lấy hết máu trong ổ bụng, lau sạch ổ bụng. Các trường hợp chửa ngoài tử cung chưa vỡ có thể mổ nội soi cẳt bỏ khối chửa ngoài tử cung hoặc phẫu thuật bảo tồn.

Trong những năm gần đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã điều trị chửa ngoài chưa vỡ bằng thuốc, thường là methotrexat đạt kết quả 60-70% không phải mổ. Tuy nhiên, người bệnh phải được phát hiện sớm, đủ các điều kiện cần thiết và được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị tại bệnh viện để có thể mổ ngay khi điều trị nội khoa thất bại.

  1. Phòng bệnh, tiên lượng và phát hiện sớm chửa ngoài tử cung

Điều trị viêm vòi trứng sớm và triệt để. Nạo sạch buồng tử cung trong các trường hợp sẩy thai, đặc biệt là sẩy thai không hoàn toàn. Tránh gây dính khi tiến hành phẫu thuật trong ổ bụng. Điều trị sớm và điều trị khỏi các viêm nhiễm đường sinh dục dưới, các tổn thương của tử cung để tránh gây nhiễm trùng ngược dòng lên 2 phân phụ.

Khoảng 10% các trường hợp chửa ngoài tử cung ở vòi trứng tiếp tục bị chửa ngoài tử cung ở vòi trứng còn lại. Vô sinh gặp ở 50% các trường hợp chửa ngoài tử cung và 30 %  có khả năng có thai lại, 50% phụ nữ bị chửa ngoài tử cung một lần có thai bình thường.

Để phát hiện sớm chửa ngoài tử cung cần phải đi khám tại các cơ sở sản khoa khi có các dấu hiệu thai nghén bất thường trong 3 tháng đầu như ra máu âm đạo, đau một trong hai hố chậu. Cần đi siêu âm ít nhất một tháng một lần trong ba tháng đầu của thai kỳ, đặc biệt là siêu âm đầu dò âm đạo để phát hiện sớm thai ngoài tử cung. Cần đến bệnh viện khám ngay khi trong ba tháng đầu có thai kỳ có ra máu âm đạo, đau bụng từng cơn rồi đau chói lên, sau đó không đau nữa để được chuẩn đoán và xử trí kịp thời chửa ngoài tử cung vỡ thể lụt máu ổ bụng.

BSBKII. Nguyễn Việt Hùng

Khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai

(TTVN số 10)

(Visited 1 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *