Phản vệ và sốc phản vệ – Nguyên nhân và triệu chứng

08/07/2018

Phản vệ là một phản ứng dị ứng toàn thân rất gay go ác liệt, diễn tiến nhanh và có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời.

Bộ Y tế 2018: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí sốc phản vệ 

Điều trị và dự phòng sốc phản vệ 

Phản vệ là gì? Sốc phản vệ là gì?

Phản vệ là gì?

Phản vệ có có thể xảy ra trong vòng mấy giây hoặc mấy phút sau khi bạn bị phơi nhiễm với một yếu tố nào đó mà bạn dị ứng, ví dụ như đậu phụng hay bị ong đốt. Cũng có trường hợp có một thời kỳ tương đối yên lặng 1 – 8 giờ trước khi xảy ra phản ứng thứ phát, đây là một đáp ứng 2 giai đoạn và có thể kéo dài một số ngày. Nguyên nhân thường gặp nhất là do thức ăn và thuốc. Ngoài  ra, độc  tố  côn trùng,  phấn  hoa, mủ nhựa… là những nguồn khởi xướng khác có thể. Điều quan trọng cần nhớ là phản ứng phản vệ chỉ có thể xảy ra khi nạn nhân trước đó đã từng bị phơi nhiễm với yếu tố tấn công.

Phản vệ nói chung hiếm gặp, và đa số sẽ khỏi. Điều quan trọng là phải nói cho bác sĩ biết trước đây bạn bị dị ứng với thuốc gì, kể cả thuốc chăm sóc răng. Nên được thực hiện các thông tin về dị ứng thuốc của bạn trên vòng đeo tay, hay treo ở cổ hoặc một thẻ thông báo luôn để trong ví.

Nếu bạn có một phản vệ trước đây, bạn dễ có nguy cơ bị lại. Nguy cơ của bạn sẽ cao hơn khi trong gia đình có người bị phản vệ hay hen suyễn.

Sốc phản vệ là gì?

Sốc phản vệ (Ảnh: Internet)

Sốc phản vệ là một diễn tiến nặng nhất của phản vệ. Người bệnh rơi vào tình trạng sốc làm cho cơ thể bị thiếu ôxy và  các chất dinh dưỡng. Da, môi, móng tay tím; các mạch máu dãn làm thoát dịch vào các mô  xung quanh gây phù mặt, cổ; huyết áp giảm vì mạch máu dãn.

Sốc phản vệ là hình thái phản vệ nặng nhất phải được điều trị ngay lập tức.

Sốc không xảy ra trong đa  số các trường hợp phản vệ, do đó phải nhận ra được tất cả các triệu chứng có thể có của phản vệ để cho việc khởi đầu điều trị không bị chậm trễ.

Cập nhật cơ chế bệnh sinh của phản vệ

Hiện tượng phản vệ lần đầu tiên được mô tả trong y văn hiện đại. Vào năm 1902, từ các nghiên cứu trên chó được gây miễn dịch bằng  cách  tiêm  những  liều  nhỏ độc tố của con sứa. Phản ứng này được các tác giả đặt tên là “hiện tượng phản vệ” (“anaphylaxis” – một từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là a- (chống lại) và phylaxis (miễn dịch hay sự bảo vệ).

Sinh lý bệnh của phản ứng phản vệ

Trước đây, người ta chia phản vệ ra làm hai loại: ‘phản ứng phản vệ’ và ‘phản ứng giống phản vệ’. Hai loại phản ứng này được gọi chung là hiện tượng phản vệ hay phản ứng phản vệ, vì có triệu chứng lâm sàng giống nhau.

Phản ứng phản vệ: Sau khi tiếp xúc với dị ứng nguyên, cơ thể thông qua các chuỗi phản ứng tạo ra Globulin miễn dịch E (IgE) gắn lên bề mặt của dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm, kích thích các tế bào này phóng thích các hóa chất trung gian đi vào máu. Từ đó về sau, khi tiếp xúc lần khác thì dị ứng nguyên sẽ gắn kết với dưỡng bào và các bạch cầu ái kiềm thông qua IgE.

Phản ứng giống phản vệ: Dị ứng nguyên tác dụng trực tiếp lên dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm làm phóng thích các hóa chất trung gian đi vào máu, không thông qua IgE.

Các hóa chất trung gian được phóng thích chủ yếu gồm: histamine, prostaglandin, leukotrien và yếu tố kích hoạt tiểu cầu (platelet activating factor). Các hóa chất này gây ra các hậu quả chính trên lâm sàng: (1) Tăng tính thấm thành mạch; (2) Tăng tiết của niêm mạc ruột, niêm mạc phế quản; (3) Co thắt tiểu phế quản, đường tiêu hóa, giãn cơ trơn mạch máu.

Các triệu chứng của các phản ứng phản vệ nói chung phản ánh hoạt động của các hóa chất trung gian của dưỡng bào và các bạch cầu ái kiềm tác động lên các mô sốc, bao gồm các mạch máu, các tuyến niêm mạc, cơ trơn, và các tận cùng thần kinh. Phản vệ bắt đầu bằng một phản ứng quá mẫn tức thì sau vài ba phút phơi nhiễm với dị ứng nguyên. Sau phản ứng khởi đầu, có thể có một thì phản ứng muộn kéo dài trong mấy tiếng.

Các hóa chất trung gian của dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm được phóng thích dưới tác động của một trong hai cơ chế miễn dịch: (1) qua trung gian globulin miễn dịch E và (2) không qua trung  gian  globulin  miễn  dịch E. Cơ chế chịu trách nhiệm cho đa số các trường hợp  phản  vệ ở người có liên quan đến IgE, thường gặp nhất là các phản ứng miễn dịch với thức ăn, thuốc men, và côn trùng đốt.

Các cơ chế thay thế có thể có nhưng vẫn  chưa được  biết  một cách đầy đủ. Các phơi nhiễm môi trường và các yếu tố phức hợp về di truyền có thể có vai trò quan trọng. Nói cách khác, phản ứng phản vệ cũng có thể phát sinh thông qua các cơ chế không phải miễn dịch do một số các yếu tố có thể gây ra quá trình mất các hạt nhỏ của  dưỡng bào  và các bạch cầu ái kiềm.

Về thuật ngữ. Thuật ngữ ‘phản ứng phản vệ’ kinh điển được dành cho các sự kiện phụ thuộc vào IgE, và thuật ngữ ‘phản ứng giống phản vệ’ được dùng để chỉ các sự kiện độc lập (không có liên quan) với IgE, mặc dù hai phản ứng này thường không thể phân biệt được trên lâm sàng. Tổ chức Dị ứng Quốc tế (World Al- lergy Organization – WAO)  đã đề nghị loại bỏ các danh pháp nói trên, và phân chia phản vệ ra làm phản vệ cơ chế miễn dịch và phản vệ cơ chế không miễn dịch.

Nguyên nhân 

Bao gồm các loại thuốc, thức ăn, côn  trùng  đốt  và  vô  căn.  Được chia làm 2 nhóm theo cơ chế bệnh sinh:

  • Về phản vệ cơ chế miễn dịch (hay gặp nhất), gồm có: các thức ăn nhất là đậu phụng, cá, tôm cua sò biển; côn trùng cánh màng đốt; các kháng sinh (beta-lactams, ethambutol, sulfonamide); thuốc tê (xylocaine, tetracaine); nhựa mủ latex; các hoóc-môn (insuline, pro- gesterone); các kháng huyết thanh (huyết thanh kháng uốn ván, huyết thanh kháng nọc rắn).
  • Về phản vệ cơ chế không miễn dịch, gồm có: các protein huyết tương, vancomycin, quino- lone, các chất tương phản dùng trong chụp XQ, các thuốc kháng viêm không-steroid (indometha- cine, mefenamic acid), các dung dịch keo (Dextran, hydroxyethyl starch), thuốc dãn cơ, thuốc giảm đau trung ương (codein và các dẫn chất morphine).

Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng thường xuất hiện từ vài phút đến vài giờ sau khi tiếp xúc với dị ứng nguyên. Thời gian từ khi tiếp xúc với dị ứng nguyên đến khi có triệu chứng đầu tiên càng ngắn thì bệnh càng có nguy cơ diễn tiến nặng.

Việc khai thác bệnh sử rất quan trọng cho việc chẩn đoán  phản vệ, do đó cần khai thác bệnh sử thật tỉ mỉ. Các thông tin cần ghi nhận:

  • Thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên sau khi tiếp xúc dị ứng nguyên
  • Tất cả các chất nghi ngờ là tác nhân (thuốc, thức ăn)
  • Bị côn trùng đốt
  • Cơ địa dị ứng.

Có 5 nhóm triệu chứng cần chú ý, trong đó các triệu chứng ngoài da là hay gặp nhất (khoảng > 90% các trường hợp):

  • Triệu chứng ngoài da: nổi mề đay, phù mạch máu, đỏ bừng mặt, ngứa.
  • Hô hấp: khó thở, khò  khè, phù thanh quản, chảy nước mũi.
  • Tuần hoàn: ngất, tụt huyết áp.
  • Tiêu hóa: đau bụng, tiêu chảy.
  • Các triệu chứng khác: nhức đầu, giật.

BS CKI Tăng Tuấn Phong

Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trích Tạp chí “Sống khỏe” số 23 – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Chăm sóc người bệnh dị ứng thuốc nặng Lyell, Steven-Johnson

Dị ứng thuốc

 

(Visited 21 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *