Phương pháp chẩn đoán đái tháo đường

Thời gian gần đây, số lượng bệnh nhân tiểu đường ngày một gia tăng với rất nhiều biến chứng nguy hại, có thể kể đến như biến chứng về tim mạch, mắt, nhiễm trùng…Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ giúp bệnh nhân cũng như xã hội giảm tải những gánh nặng. Vậy phương pháp chẩn đoán đái tháo đường là gì?

Xét nghiệm định lượng đường huyết

Đái tháo đường là căn bệnh ngày càng trở nên phổ biến hiện nay, để phát hiện sớm và kiểm soát bệnh có hiệu quả, cần có những phương pháp chẩn đoán sàng lọc về bệnh. Xét nghiệm định lượng đường huyết là phương pháp không còn xa lạ với mọi người, đặc biệt là bệnh nhân đái tháo đường.

Xét nghiệm đường huyết

Xét nghiệm đường huyết

Mục đích thực hiện

Định lượng đường huyết được thực hiện với mục đích định lượng, xác định nồng độ đường trong máu, hay còn gọi là glucose máu. Glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính đối với cơ thể người. Bình thường nồng độ glucose trong máu luôn duy trì ở mức ổn định trong khoảng 80- 120 mg% ( 4,95 ± 0,63 mmol/L), được điều hòa bằng hệ thống hormon ( insulin, glucagon,..) và gan của cơ thể. Khi cơ thể tổn thương bất kì một hệ thống, cơ quan này sẽ làm thay đổi mức đường huyết của cơ thể. Chính vì thế, xét nghiệm định lượng đường huyết đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra những bất thường, tổn thương của cơ thể, những rối loạn chuyển hóa glucose cũng như chẩn đoán và theo dõi một số bệnh  thông qua sự thay đổi nồng độ đường huyết.

Phương pháp thực hiện

Phương pháp này có thể dễ dàng được thực hiện ngay tại nhà với thiết bị y tế nhỏ gọn, cho kết quả ngay khi thực hiện xong bằng cách lấy máu mao mạch, máu ở đầu ngón tay nhưng lại có nhược điểm có thể kết quả không được chính xác do thao tác chưa chính xác, thời điểm lấy máu chưa phù hợp,..

Để có kết quả chính xác, bệnh nhân có thể thực hiện tại bệnh viện, cơ sở xét nghiệm chuyên khoa với trang thiết bị đầy đủ. Tại đây, các kĩ thuật viên xét nghiệm sẽ lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm dưới chỉ định, thăm khám của bác sỹ.

Đường huyết như thế nào là bình thường?

Ở cơ thể người bình thường, nồng độ glucose máu có thể thay đổi trong ngày nhưng không vượt quá ngưỡng mức thường:

  • Sau ăn 2 giờ thường < 6,6- 7,7 mmol/L ( 120-140 mg/dL)
  • Lúc đói giá trị này vào khoảng <5,6 mmol/L (100mg/dL).

Đường huyết như thế nào gọi là bất thường?

  • Trường hợp bị rối loạn nồng độ glucose máu lúc đói khi đạt giá trị khoảng 5,6- 6,9 mmol/L ( 100-125 mg/dL)
  • Khi  ≥ 7,0 mmol/L lúc đói được gọi là tăng glucose máu.
  • Khi nồng độ đường huyết máu lúc đói < 2,8mmol/L xuất hiện tình trạng hạ đường huyết, <1,7mmol/L các tai biến thần kinh xuất hiện bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái hôn mê.

Nghiệm pháp dung nạp đường

Nghiệm pháp dung nạp đường là gì?

Đây là phương pháp để đánh giá khả năng sử dụng đường của cơ thể sau khi cho uống một lượng đường nhất định (75g glucose). Phương pháp này được dùng để chẩn đoán hay loại trừ tiền đái tháo đường và đái tháo đường, dùng để sàng lọc, kiểm tra đái tháo đường thai kỳ.

Chỉ định thực hiện trong trường hợp nào?

Nghiệm pháp dung nạp đường chủ yếu được chỉ định cho các bệnh nhân có nồng độ glucose máu lúc đói ở mức ranh giới ( khoảng 6,1 – 7,8 mmol/L) và nên được chỉ định làm xét nghiệm ở tất cả phụ nữ để phát hiện tình trạng đái tháo đường thai kỳ, đây được coi là tiêu chuẩn vàng để kết luận tình trạng Đái tháo đường thai kỳ.

Quy trình thực hiện?

Tiến hành cho bệnh nhân uống một liều glucose trong vòng 5 phút (75g glucose pha trong 200- 300ml nước: Trẻ em 1,75 g/kg trọng lượng cơ thể nhưng không quá 75g, phụ nữ có thai 100g).

Lấy các mẫu máu tĩnh mạch xét nghiệm nồng độ glucose ở các thời điểm để đánh giá:

  • 0 phút: nồng độ glucose máu nền hay lúc đói, khi chưa uống đường.
  • 1h, 2h: sau khi bệnh nhân đã uống đường.
  • Có thể lấy 3h – 5h: nếu muốn tìm kiếm tình trạng hạ đườn huyết phản ứng.
Uống một liều glucose

Uống một liều glucose

Lưu ý khi thực hiện nghiệm pháp

Trước khi làm nghiệm pháp cần nhịn ăn từ 10h – 16h, chỉ có thể uống nước lọc, không sử dụng các đồ uống có cồn, chất kích thích, ngừng dùng các thuốc có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm trước 3 ngày như nhóm thuốc corticoid, estrogen, lợi tiểu nhóm thiazid, aspirin,..

Không làm nghiệm pháp khi cơ thể đang mắc bệnh cấp tính, bệnh toàn thân ảnh hưởng đến khả năng biến đổi dung nạp glucose như tình trạng stress, nhiễm khuẩn nặng, chấn thương, sau phẫu thuật, nhồi máu cơ tim,..

Kết quả

Đối với người bình thường, nồng độ glucose huyết tương tĩnh mạch tương đối ổn định trong suốt thời gian làm nghiệm pháp (< 8mmol/L). Bên cạnh đó, với người bị đái tháo đường nồng độ glucose máu bị tăng và kéo dài trong nhiều giờ.

Xét nghiệm HbA1c

Xét nghiệm HbA1c là gì?

Xét nghiệm HbA1c là xét nghiệm máu nhằm mục đích định lượng glucose gắn với hemoglobin trong tế bào hồng cầu, từ đó có thể nhận định được nồng độ glucose trong máu trung bình trong vòng 2 – 3 tháng trước đó của bệnh nhân.

Đối tượng cần theo dõi HbA1c?

Giá trị HbA1C sẽ cung cấp thông tin quý giá để theo dõi các bệnh nhân Đái tháo đường là đối tượng có nồng độ glucose máu thay đổi liên tục giữa các ngày, giúp theo dõi mức độ kiểm soát lâu dài bệnh Đái tháo đường, phát hiện sớm các biến chứng và tiến triển của bệnh.

Đồng thời xét nghiệm này cũng là một công cụ để chẩn đoán bệnh nhân bị Đái tháo đường.

Kết quả

Kết quả của xét nghiệm được trả lời bằng % nồng độ hemoglobin gắn đường so với nồng độ hemoglobin máu toàn phần.

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (2010):

  • Người lớn không bị Đái tháo đường : HbA1c < 5,6 % ( 2,2 – 5%)
  • Tăng nguy cơ bị Đái tháo đường: 5,7 – 6,4%
  • Bị Đái tháo đường: >=6,5%

Như thế nào được coi là đái tháo đường?

Đái tháo đường

Đái tháo đường

Tiền Đái tháo đường

Đây à tình trạng lượng đường trong máu tăng cao nhưng vẫn chưa đạt ngưỡng của đái tháo đường thật sự. Tình trạng này có thể chuyển thành đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm để điều chỉnh lối sống cũng như ăn uống và nó có thể gây hại cho cơ quan của cơ thể như tim, thận, thần kinh,.. như bệnh đái tháo đường. Tiền đái tháo đường hay còn gọi là tình trạng rối loạn rối loạn dung nạp glucose lúc đói và khi xét nghiệm glucose lúc đói giá trị này nằm trong khoảng 5,6 – 6,9mmol/L.

Đái tháo đường chung

Được chẩn đoán là Đái tháo đường khi có một trong các xét nghiệm sau (theo bộ Y tế 2020):

  • Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc:
  • Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
  • HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng
    phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
  • BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1mmol/L).

Đái tháo đường thai kỳ

Ở phụ nữ mang thai, tình trạng tăng đường huyết vào 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ mà trước đó chưa bị bệnh đái tháo đường thì được gọi là Đái tháo đường thai kỳ. Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ khi bất kỳ giá trị glucose huyết tương nào thỏa mãn tiêu chuẩn sau đây khi làm nghiệm pháp dung nạp đường uống 75g ở tuần thứ 24 – 28 của thai kỳ:

  •  Lúc đói ≥ 92 mg/dL (5,1 mmol/L)
  • Ở thời điểm 1 giờ ≥ 180 mg/dL (10,0 mmol/L)
  • Ở thời điểm 2 giờ ≥ 153 mg/dL (8,5 mmol/L)

Hiện nay, công cụ để chẩn đoán Đái tháo đường rất phổ biến và dễ tiếp cận với mọi người. Chính vì thế, để sàng lọc, phát hiện sớm, cũng như kiểm soát tốt bệnh Đái tháo đường nói riêng cũng như các bệnh khác, mỗi chúng ta nên thiết lập thói quen khám sức khỏe định kỳ để thăm khám, làm xét nghiệm cần thiết.

Điều trị đái tháo đường như thế nào để đường huyết về mức tối ưu?

Xem thêm: Điều trị bệnh đái tháo đường