Tổng quan về ung thư phổi theo y học cổ truyền

15/11/2018

Y học cổ truyền gọi các khối u ác tính là Nham chứng. Ung thư phổi được xếp vào chứng Phế nham.

1. Nguyên nhân gây bệnh Ung thư phổi theo Đông y:

Phế nham hình thành do khí cơ không thông, huyết ứ, thủy thấp đình trệ lại sinh đàm, đàm kết lâu ngày thành khối tích. Nguyên nhân gây ra là do:

  • Tạng phủ, âm dương mất cân bằng, chính khí suy yếu, chức năng tỳ, phế, thận hư tổn dẫn tới phế khí bất túc.
  • Hút thuốc, uống rượu kéo dài làm hao tổn tinh huyết, hóa nhiệt thương tân.
  • Lao lực quá độ làm tổn thương phế am, âm hư sinh nội nhiệt, cuối cùng là khí âm lưỡng hư
  • Độc tà từ bên ngoài xâm phạm như ô nhiễm không khí, làm việc trong môi trường độc hại, nhiều khói thuốc,…

2. Cơ chế bệnh sinh của bệnh Ung thư phổi theo Đông y

Bệnh sinh của chứng Phế nham là sự phối hợp 4 yếu tố đàm, ứ, độc va hư với các cơ chế khác nhau theo từng giai đoạn bệnh. Giai đoạn đầu, đàm trọc và khí trệ huyết ứ là chủ, phế lạc ứ trệ, mất tuyên phát, túc giáng. Trong quá trình tiến triển của bệnh, đàm uất hóa nhiệt, đàm nhiệt trở tắc ở phế. Bệnh lâu ngày khối tích phát triển mạnh làm tổn thương khí âm, biểu hiện chứng hư thực thác tạp hoặc chính khí hư là chủ, hoặc tà khí thực là chính.

Hai cơ chế chính là:

– Tà độc xâm phạm, phế lạc tổn thương

– Khí trệ huyết ứ, đàm tắc trở phế

Có thể tóm tắt cơ chế bệnh sinh của chứng Phế nham như hình dưới:

Cơ chế bệnh sinh gây bệnh Ung thư phổi theo Đông y

Cơ chế bệnh sinh gây bệnh Ung thư phổi theo Đông y

3. Điều trị Ung thư phổi theo Đông y

Trên lâm sàng thường gặp các thể:

3.1. Thể âm hư nhiệt độc

Triệu chứng: Ho, đờm ít, dính, khó khạc, có dây máu hoặc khạc huyết số lượng ít, tức ngực, khó thở, tâm phiền ngủ ít, miệng khô họng ráo, tiểu tiện, đỏ, ngắn, chất lƣỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.

Pháp điều trị: Tư âm thanh nhiệt, giải độc tán kết.

Phương dược: Sa sâm mạch môn thang hợp Ngũ vị tiêu độc ẩm

Sa sâm                       15g                 Mạch môn                20g
Ngọc trúc                    15g                 Thiên hoa phấn        20g
Tang diệp                    20g                 Bạch biển đậu          20g
Kim ngân hoa             15g                 Cúc hoa dại              15g
Tử hoa địa đinh          10g                  Bồ công anh            10g
Thổ bối mẫu               15g                 Cam thảo                   06g

Gia giảm:

  • Ho ra máu kéo dài gia Sinh địa, Bạch mao căn, Tiên hạc thảo, Tam thất, Đại hoàng để lương huyết chỉ huyết.
  • Đại tiện táo gia Xích thược, Đại hoàng, Hắc ma nhân để nhuận tràng thông tiện. Triều nhiệt
  • Tự hãn gia Địa cốt bì, Bạch vi, Ngũ vị tử, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên để tư âm thanh nhiệt.
  • Nếu kiêm huyết ứ gây đau nhiều gia Xuyên khung, Diên hồ sách, Nga truật để hành khí, hoạt huyết, chỉ thống.

3.2. Thể đàm trọc ủng phế

Triệu chứng: Ho khó thở, thở khò khè, đờm dính khó khạc, đầy tức ngực sườn, chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng bẩn hoặc vàng bẩn, mạch huyền hoạt.

Pháp điều trị: Hóa đàm giáng trọc, thanh phế giải độc.

Phương dược: Đạo đàm thang gia vị

Sinh bán hạ          10g                       Trần bì                  10g
Cam thảo              06g                       Chỉ thực                10g
Đởm nam tinh       15g                       Phục linh               20g
Mạch môn             20g                       Hoàng liên            15g
Nhân sâm             15g                       Cát cánh                10g
Trúc nhự               10g                       Xuyên khung         15g
Khương hoàng      20g                       Thủy hồng hoa tử  20g

Gia giảm:

  • Đàm ứ kết lâu ngày hóa nhiệt gia Ngư tinh thảo, Kim ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm để thanh nhiệt, hóa đàm.
  • Đàm ứ gây đau nhiều gia Uất kim, Diên hồ sách hành khí, chỉ thống.
  • Đờm có dây máu gia Tiên hạc thảo, Cáp giới, A giao.
  • Mệt mỏi, ăn kém gia Bạch truật, Kê nội kim, Sơn tra để kiện tỳ khai vị.

3.3. Thể khí trệ huyết ứ

Triệu chứng: Khí trệ huyết ứ gây đau vùng ngực như dao đâm, ngực sườn đầy tức, ho, đại tiện táo, lưỡi đỏ, có điểm ứ huyết, rêu vàng mỏng, mạch huyền hoặc sáp.

Pháp điều trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ tán kết.

Phương dược: Tứ vật đào hồng gia giảm

Đào nhân              15g                      Xuyên khung        20g
Bạch thược           15g                       Sinh địa                12g
Hồng hoa              15g                       Đương quy           10g
Nga truật               20g                       Hương phụ           10g
Diên hồ sách         20g                       Đan bì                  15g

Gia giảm:

  • Ho ra máu lâu ngày gia Tam thất, Tiên hạc thảo, Bồ hoàng để lương huyết, hoạt huyết, chỉ huyết.
  • Đau ngực nhiều gia Tam lăng, Nga truật, Nhũ hương.
  • Ứ lâu ngày hóa nhiệt, tân dịch thiếu miệng khô, táo gia Sa sâm, Huyền sâm, Thiên hoa phấn để ích khí sinh tân.
  • Khí huyết hư nhiều, ăn ít mệt mỏi gia Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ để bổ khí, kiện tỳ.
  • Tràn dịch màng phổi gia Đình lịch tử, Xích tiểu đậu, Tang bạch bì.
  • Di căn hạch bạch huyết gia Triết bối mẫu, Côn bố, Mẫu lệ.

3.4. Thể phế tỳ khí hư

Triệu chứng: Ho, khó thở, đàm nhiều, sắc trắng, tinh thần mệt mỏi, tức ngực, ăn kém, đầy bụng, đại tiện nát, vận động ra nhiều mồ hôi, sợ lạnh, chi lạnh, chất lưỡi đạm, rêu trắng bẩn, mạch tế hoãn hoặc trầm.

Pháp điều trị: Ích khí kiện tỳ, lý khí hóa đàm.

Phương dược: Hương sa lục quân hợp Nhị trần thang gia giảm

Đảng sâm              16g                       Bạch truật             16g
Hoàng kỳ              12g                        Bán hạ chế            10g
Trần bì                  08g                        Phục linh              12g
Tế tân                   04g                        Can khương          06g
Hạnh nhân            10g                        Ý dĩ                      12g
Cát cánh               10g                        Phụ tử chế            06g
Hoàng tinh            10g                        Sa nhân                08g

Gia giảm:

  • Khó thở nhiều, mệt mỏi gia Hồng sâm, Cáp giới, Đông trùng hạ thảo.
  • Đàm nhiều gia Đào nhân, Chế nam tinh.

3.5. Thể khí âm lưỡng hư

Triệu chứng: Ho, đờm ít, có thể có dây máu, tiếng ho nhỏ, sắc mặt trắng, người mệt, đoản khí, tự hãn, đạo hãn, đau âm ỉ vùng ngực, lưng, miệng khô, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế nhược.

Pháp điều trị: Ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt giải độc.

Phương dược: Thanh táo cứu phế thang gia giảm

Thái tử sâm           16g             Bạch truật             12g
Sa sâm                  12g             Mạch môn            12g
Sinh địa                12g              Ngọc trúc              12g
Thạch hộc             12g             Thiên hoa phấn     12g
Ngƣ tinh thảo       10g              Trần bì                  08g
Phục linh              16g              Bán hạ chế            10g
Xuyên bối mẫu     12g              Tử uyển                12g

Gia giảm:

  • Ho ra máu gia Tam thất, Tiên hạc thảo để hoạt huyết, chỉ huyết.
  • Đau ngực nhiều gia Xuyên khung, Diên hồ sách, Mộc hương, Uất kim,
    Nhũ hương.
  • Ho đờm khó khạc gia Xuyên bối mẫu, Qua lâu, Hạnh nhân để nhuận phế hóa đàm chỉ khái.
  • Âm hư nhiều gia Sa sâm, Mạch môn, Bách hợp, Ngọc trúc tư dưỡng tân dịch.
Trên lâm sàng, tùy thuộc vào giai đoạn để có sự phối hợp linh hoạt các phương pháp điều trị.
  • Giai đoạn đầu, đàm trọc là chủ, cần hóa đàm giáng trọc bằng các vị như Bán hạ chế, Phục linh, Chỉ thực, Chỉ xác; Miêu trảo thảo, Thủ cung, Bối mẫu; có thể phối hợp Tỳ bà diệp chỉ khái, trừ đàm….
  • Giai đoạn sau đàm uất hóa nhiệt, đàm nhiệt trở tắc ở phế cần thanh nhiệt giải độc là chính. Thường dùng các vị Kim ngân hoa, Bồ công anh, Ngư tinh thảo, Tỳ bà diệp… để thanh nhiệt giải độc, trừ đàm, phối Tiên hạc thảo thu liễm chỉ huyết khi có ho ra máu.
  • Giai đoạn cuối, sau quá trình điều trị bằng các phương pháp của YHHĐ như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị làm cơ thể suy nhược, chính khí bị tổn thương, khí huyết tân dịch hư hao, điều trị cần ích khí kiện tỳ, dưỡng âm sinh tân. Thường dùng các vị Đảng sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn…

4. Một số vị thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư phổi

4.1. Xạ đen hỗ trợ điều trị ung thư phổi 

Xạ đen (tên khác là cây bách giải, bạch vạn hoa, đồng triều hoặc cây ung thư) có tên khoa học là Celas trus hindsii Benth. Đây là loại dược liệu quý, thường được dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh ung thư như ung thư phổi, gan, ung thư thực quản, ung thư dạ dày,…

Xạ đen hỗ trợ điều trị ung thư phổi

Xạ đen hỗ trợ điều trị ung thư phổi (Nguồn: Internet)

Các tác dụng thường được biết đến của xạ đen là hỗ trợ điều trị ung thư; bảo vệ tế bào gan và tăng cường chức năng gan; điều trị mất  ngủ; ổn định bệnh lý tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường,…

Trong thành phần của xạ đen có chứa các loại Flavoid có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do. Hoạt chất Quinon giúp làm giảm sự liên kết giữa các tế bào trong khối u, làm thu nhỏ kích thước khối u. Flavonoid kết hợp với ư Quinon  tạo thành một lớp màng bảo vệ cơ thể trước sự xâm lấn của các tế bào ác tính, cô lập và diệt tế bào ung thư.

4.2. Bán chi liên hỗ trợ điều trị ung thư phổi

 Bán chi liên hỗ trợ điều trị ung thư phổi

 Bán chi liên hỗ trợ điều trị ung thư phổi (Nguồn: Internet)

Bán chi liên có tên khoa học là Scutellaria barbata, là vị thuốc quý thường được dùng để điều trị các bệnh lý viêm nhiễm và hỗ trợ điều trị ung thư. Những hoạt chất có khả năng ức chế sự phát triển và di căn của tế bào ung thư của Bán chi liên được biết đến là scutellarein, isocarthamidin, carthamidin. Ngoài ra, cây còn được dùng để điều trị các bệnh lý viêm phổi, lao phổi, xơ gan, viêm gan.

4.3. Bạch hoa xà thiệt thảo

Bạch hoa xà thiệt thảo hỗ trợ điều trị ung thư phổi

Bạch hoa xà thiệt thảo hỗ trợ điều trị ung thư phổi (Nguồn: Internet)

Bạch hoa xà thiệt thảo có tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd. Trên thực nghiệm, Bạch hoa xà thiệt thảo cho thấy tác dụng chống viêm, tăng cường miễn dịch, ức chế mạnh các tế bào ung thư. Đây là vị thuốc nam khá phổ biến và cho thấy tác dụng tốt hỗ trợ điều trị một số loại ung thư trong đó có ung thư phổi.
Ba vị thuốc trên thường được kết hợp với nhau để tăng hiệu quả điều trị bệnh lý ung thư
Cách dùng: Xạ đen, Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo khô mỗi vị 30g, đổ nước ngập thuốc 3 – 5 cm, sắc với lửa vừa còn 30%, uống ngày 2 lần, uống kéo dài trong nhiều tháng.

5. Kết luận

Là một trong tứ chứng nan y trong Đông y, điều trị Nham chứng nói chung và Phế nham nói riêng vẫn là một thách thức đối với cả Y học cổ truyền và Y học hiện đại. Các phương pháp điều trị bằng thuốc của Y học cổ truyền có thể giúp cho việc giảm bớt triệu chứng, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống nói chung của người bệnh, đặc biệt là trong quá trình điều trị bằng các phương pháp của Y học hiện đại.

ThS BS Hương Giang

Theo Nội khoa Việt Nam

(Visited 340 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *