Suy tim có chữa được không? Cách nào giảm nhẹ bệnh

Suy tim có chữa được không, cơ hội chữa khỏi là bao nhiêu và điều trị suy tim như thế nào là hiệu quả nhất? Đó là trăn trở của hầu hết người bệnh và người thân của họ. Thực tế phần lớn các trường hợp suy tim không thể chữa khỏi hoàn toàn nhưng vẫn có thể điều trị để giảm triệu chứng của suy tim và ngăn bệnh tiến triển. Nếu giữ tinh thần lạc quan và kiểm soát đúng cách, bạn sẽ có thể chung sống an toàn với căn bệnh này.

Người bệnh tuân thủ điều trị sớm có thể chung sống an toàn với suy tim
Người bệnh tuân thủ điều trị sớm có thể chung sống an toàn với suy tim

Suy tim là gì?

Suy tim là tình trạng suy giảm khả năng bơm máu của tim khiến các cơ quan không nhận đủ máu. Suy tim gồm 4 giai đoạn với mức độ khó thở, mệt mỏi tăng dần.  Đây là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh lý tim mạch. Người bệnh bị suy tim sẽ suy giảm khả năng hoạt động, suy giảm chất lượng sống, tùy từng mức độ sẽ cần sự hỗ trợ khác nhau.

Suy tim khó chữa khỏi nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát

Trả lời cho câu hỏi “bệnh suy tim có chữa được không?”, các chuyên gia tim mạch cho biết hiện chưa có phương pháp nào có thể chắc chắn chữa khỏi bệnh suy tim. Một số trường hợp suy tim do bệnh mạch vành hay hở van tim mà cơ tim chưa bị tổn thương có thể khỏi sau khi được điều trị bằng phẫu thuật thay van hay đặt stent mạch vành.

Tuy nhiên đa phần người bị suy tim thường phát hiện bệnh muộn khi cấu trúc tim đã bị biến đổi và mắc nhiều bệnh lý nền khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là 1 bệnh mạch vành hay van tim. Để chữa khỏi các bệnh lý nền, khôi phục cấu trúc tim từ đó chữa khỏi suy tim là điều không dễ dàng.

May mắn là dù khó chữa khỏi nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cách, người bệnh suy tim vẫn có thể:

  • Giảm tần suất xuất hiện và mức độ nặng nề của các triệu chứng
  • Giảm tốc độ tiến triển của bệnh
  • Giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng nguy hiểm
  • Nâng cao chất lượng sống, kéo dài tuổi thọ

Và từ đó trở về với cuộc sống thường ngày như bao người bình thường khác.

Những biện pháp điều trị chung cho bệnh nhân suy tim

Chế độ nghỉ ngơi cho người suy tim

Tùy vào mức độ suy tim mà bệnh nhân sẽ có chế độ nghỉ ngơi phù hợp.

  • Suy tim NYHA I- II: bệnh nhân có thể tập các bài thể dục nhẹ nhàng với mức độ nặng tăng dần như đi bộ, đạp xe đạp, bơi lội. Tránh các bài tập yêu cầu phải gắng sức nhiều như tập tạ, leo núi,…
  • Suy tim NYHA III: bệnh nhân có thể thực hiện các bài thể dục đơn giản không yêu cầu tốn nhiều sức như bài tập dưỡng sinh, tập thái cực quyền.
  • Suy tim NYHA IV: cho bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tại giường với tư thế nửa nằm nửa ngồi, có thể cho bệnh nhân vận động nhẹ nhàng tại giường với các động tác như nhún vai, nghiêng cổ sang phải- trái, căng giãn bắp tay, bắp chân,…

Chế độ dinh dưỡng cho người suy tim

Chế độ ăn giảm muối cho người bị suy tim

Chế độ ăn giảm muối cho người bị suy tim

  • Ăn nhạt, hạn chế lượng muối vào cơ thể ở mức khoảng 2g/ ngày. Nên ăn đồ ăn được chế biến theo phương pháp hấp, luộc, hạn chế chấm thêm. Không nên ăn thức ăn đóng hộp, đồ muối chua.
  • Giảm lipid trong khẩu phần ăn, nên giữ ở mức khoảng 25-35g/ ngày. Hạn chế dùng chất béo từ động vật, nên dùng chất béo từ thực vật như dầu olive, dầu hạt óc chó,…
  • Ăn tinh bột 300-400g/ ngày. Nên lựa chọn các loại ngũ cốc không xay xát kĩ như gạo lứt, bánh mì nguyên cám, khoai lang,.. , hạn chế các dạng tinh bột đã qua tinh chế như bánh kẹo,…
  • Ăn nhiều rau xanh và hoa quả tươi giàu các loại vitamin giúp chống oxy hoá mạnh như ớt chuông đỏ, bí đỏ, bí xanh, su su, bầu, mướp, đậu rồng, súp lơ,…

Hạn chế lượng nước và dịch truyền cho bệnh nhân

  • Do khi tim bị suy thì khả năng co bóp để hút máu về và tống máu đi giảm nên khi cơ thể bệnh nhân nạp quá nhiều nước sẽ dẫn tới tình trạng quá tải làm cho tim suy nặng thêm, có thể biểu hiện phù, nặng có thể phù phổi cấp.
  • Lượng nước được khuyến cáo cho bệnh nhân ở mức 1.2-1.5 lít/ ngày, trong trường hợp suy tim rất nặng có thể cân nhắc giảm lượng nước nhập vào thêm.
  • Lượng dịch đưa vào bệnh nhân chỉ khoảng 500-1000ml tuỳ mức độ
  • Tuyệt đối không tự ý cho bệnh nhân truyền dịch bừa bãi. Trừ trường hợp có chỉ định, tuy nhiên phải theo dõi sát và kiểm soát kĩ lượng dịch truyền.

Thở oxy

Cân nhắc cho bệnh nhân thở oxy khi bệnh nhân có khó thở, SpO2 giảm <= 95%, có thể thở qua gọng kính 3 lít/ phút. Trong trường hợp bệnh nhân có khó thở nhiều, SpO2 <= 90%, cân nhắc cho thở oxy qua mask 10-15 lít/ phút. Có phần nhỏ bệnh nhân có giảm oxy máu nhưng không có khó thở do cơ thể đã quen với việc thiếu oxy thì vẫn cân nhắc cho bệnh nhân thở oxy để đảm bảo lượng oxy tới các mô cơ quan.

Loại bỏ các yếu tố nguy cơ

Bệnh nhân cần có lối sống lành mạnh: bỏ rượu, bia, thuốc lá hay các chất kích thích khác để tránh nguy cơ co mạch, làm tăng gánh nặng thêm cho tim.

Kiểm soát tốt cân nặng

Điều trị nguyên nhân

Bệnh lý phổi: điều  tích cực hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tăng áp động mạch phổi để tránh dẫn tới suy tim sớm.

Gù vẹo cột sống, dị dạng lồng ngực: điều trị nẹp cột sống hoặc phẫu thuật cột sống,  phẫu thuật tạo hình lại lồng ngực.

Bệnh lý tim mạch: 

  • Tăng huyết áp: kiểm soát tốt huyết áp bệnh nhân,  để tim bệnh nhân đỡ phải hoạt động nhiều hơn nhằm vượt qua sức cản trong lòng mạch.ống
  • Bệnh van tim: hẹp hay hở van hai lá, ba lá, vẫn động mạch chủ. Tùy vào mức độ hẹp,  hở mà có chỉ định phẫu thuật nong, vá hay thay van tim cơ học, sinh học.
  • Nhồi máu cơ tim hay bệnh lý thiếu máu cơ tim cục bộ cần sớm dùng tiêu sợi huyết hoặc đặt stent mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
  • Bệnh lý cơ tim phì đại xem xét phẫu thuật bóc cơ tim.
  • Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn: điều trị kháng sinh sớm, phù hợp.
  • Rối loạn nhịp tim: điều trị sớm các rối loạn nhịp tim như nhịp nhanh , nhịp chậm, rung nhĩ,… bằng phương pháp đốt hoặc đặt máy tạo nhịp.
  • Bệnh tim bẩm sinh: còn ống động mạch, thông liên thất, thông liên nhĩ, hở eo động mạch chủ, tứ chứng fallot,… cần được phẫu thuật càng sớm càng tốt giúp tránh được biến chứng suy tim về sau.

Bệnh lý chuyển hoá: Đái tháo đường làm tăng nguy cơ suy tim từ 3-5 lần, nên cần kiểm soát tốt đường huyết.

Cường giáp gây ra tình trạng hồi hộp, đánh trống ngực, tìm đập nhanh và lâu ngày có thể dẫn tới suy tim. Vì vậy phát hiện và điều trị sớm cường giáp giúp ngăn được tình trạng suy tim .

Các thuốc điều trị nền tảng

Các nhóm thuốc điều trị suy tim

Các nhóm thuốc điều trị suy tim

Thuốc ức chế men chuyển

Đây là nhóm thuốc được lựa chọn đầu tay trong điều trị suy tim bởi khả năng cải thiện các triệu chứng suy tim cũng như tiên lượng bệnh, có thể dùng nhóm này ngay cả khi bệnh nhân suy tim chưa có triệu chứng. Nhóm ức chế men chuyển tác dụng theo cơ chế ức chế men chuyển Angiotensin I thành Angiotensin II, qua đó giãn mạch, hạ huyết áp giúp giảm gánh nặng cho tim nhờ giảm cả tiền gánh và hậu gánh, ngoài ra nhóm này cũng được chứng minh là có tác dụng cải thiện chức năng thất trái.

Những thuốc thường dùng: Captopril ,Enalapril, Lisinopril, Ramipril, Trandolapril…

Tác dụng phụ: thường gây ho khan do tăng tổng hợp Bradykinin.

Chống chỉ định: phụ nữ có thai, hẹp động mạch thận, tăng Kali máu.

Thuốc ức chế thụ thể AT1

Được chỉ định với bệnh nhân không dung nạp ức chế men chuyển. Nó tác động trực tiếp lên thụ thể AT1, nơi Angiotensin II gây ra tác dụng trên tổ chức đích. Qua đó gây giãn mạch, giảm tiền gánh và hậu gánh giúp giảm gánh nặng cho tim. Nhóm chẹn thụ thể AT1 không gây ho khan như UCMC.

Những thuốc thường dùng:Valsatan, Losartan, Candesartan …

Chống chỉ định:  phụ nữ có thai, hẹp động mạch thận, tăng Kali máu.

Thuốc chẹn beta giao cảm

Nhóm chẹn Beta giáo cảm là lựa chọn quan trọng giúp cho bệnh nhân giảm tỷ lệ nhập viện do đợt cấp suy tim cũng như đột tử do suy tim. Do đó, tất cả các bệnh nhân suy tim dù nhẹ hay nặng đều cần sử dụng chẹn Beta nếu không có chống chỉ định. Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh Adrenalin và Noadrenalin thông qua việc chẹn thụ thể Beta, ngăn chặn các chất này gắn vào thụ thể Beta 1 và Beta 2 của tế bào thần kinh giao cảm. Qua đó làm chậm nhịp tim, giãn mạch, hạ huyết áp. Nên khởi đầu bằng liều rất thấp, sau tăng dần mỗi 2-4 tuần.

Những thuốc thường dùng: Bisoprolol, Carvedilol , Nebivolol, Metoprolol Succinate…

Chống chỉ định: suy tim sung huyết, sốc đỏ rối loạn chức năng tìm, nhịp tim chậm, block nhĩ thất độ II III, hen phế quản nặng, COPD nặng.

Nhóm lợi tiểu kháng Aldosterone

Giúp giảm tỷ lệ tử vong cũng như nhập viện ở bệnh nhân suy tim nặng. Nhóm này không chỉ có tác dụng lơi tiểu mà còn giảm co mạch, giảm giữ muối nước và phì đại cơ tim. 

Những thuốc thường dùng: Eplerenone và spironolactone..

Chống chỉ định : bệnh nhân suy thận nặng và tăng Kali máu.

Các nhóm thuốc khác 

Thuốc lợi tiểu

Các thuốc lợi tiểu có tác dụng đào thải muối và nước giúp giảm các triệu chứng suy tim nhất là trong suy tim sung huyết. Đây được coi là thuốc điều trị bước đầu cơ bản trong suy tim.

Những thuốc thường dùng:Lợi tiểu thiazide (Indapamide, Hydrocholoro Thiazide…), lợi tiểu quai (Furosemide,Bumetanide…)

Chống chỉ định: Mất nước, huyết áp tụt, có thai, tắc nghẽn đường tiết niệu.

Glucosid trợ tim

Có tác dụng làm tăng sức co bóp của cơ tim, giảm bớt gánh nặng cho tim. Dùng rất hiệu quả trong trường hợp suy tim có rối loạn nhịp nhĩ. Không chỉ cải thiện triệu chứng, làm giảm tỷ lệ nhập viện mà cũng giảm luôn tỷ lệ đột tử do suy tim.

Loại thuốc thường dùng: Digoxin

Chống chỉ định: nhịp tim chậm , rối loạn nhịp thất, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, hẹp van động mạch chỉ hoặc van động mạch phổi nặng, hội chứng Wolff- Parkinson.

Thuốc ức chế thụ thể neprilysin của Angiotensin

Được chỉ định cho bệnh nhân suy tim mãn tính không đáp ứng với điều trị bằng ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể AT1. Thuốc được đánh giá cao trong suy tim phân suất tống máu giảm,  có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong tìm mạch và nhập viện do suy tim, bảo vệ tổn thương tế bào cơ tim.

Hay sử dụng là: Sacubitril/valsatan

Chống chỉ định: hẹp động mạch thận, mang thai.

Nhóm chẹn kênh IF

Thuốc hoạt động thông qua cơ chế kênh IF tại nút nhĩ thất, qua đó làm chậm nhịp tim.

Liều Ivabradine khởi đầu 5mg x 2 lần/ ngày. Được điều chỉnh trong thời gian 2 tuần tới nhịp tim 50-60 lần/ phút. Liều tối đa 7.5mg x 2 lần/ ngày.

Chống chỉ định: nhịp tim chậm < 60 lần/ phút, huyết áp thấp, nhồi máu cơ tim cấp, sốc tim, block nhĩ thất độ III, suy nút xoang.

Thuốc làm tăng sức co bóp cơ tim loại giống giao cảm

Gồm các thuốc Adrenalin, Noadrenalin, Dopamine, Dobutamin với cơ chế kích thích alpha- adrenergic và beta- adrenergic. Được chỉ định trong trường  hợp cấp cứu bệnh nhân có suy tim cấp, suy tim đợt cấp mất bù, suy tim mạn giai đoạn cuối.

Tùy vào trường hợp cụ thể để cân chỉnh liều cũng như phối hợp các thuốc với nhau khi chưa đạt được mục đích.

Các thiết bị hỗ trợ cho bệnh nhân suy tim

Máy tái đồng bộ cơ tim

Đặt máy tái nồng độ cơ tim

Đặt máy tái nồng độ cơ tim

Cơ chế: điều phối hoạt động của tâm nhĩ và tâm thất, giúp tim đập đúng nhịp.

Chỉ định: Suy tim có phân suất tống máu thất trái EF dưới 35%, nhịp xoang, có khoảng QRS lớn hơn 130 ms và có dạng block nhánh trái, đã được điều trị nội khoa ổn định. Đặt máy tái đồng bộ cơ tim ở bệnh nhán suy tim NYHA II- III – IV được chứng minh giảm tỷ lên nhập viện và tử vong do suy tim.

Máy tạo nhịp phá rung tự động

Cơ chế: khi xuất hiện tình trạng rối loạn nhịp tim nguy hiểm thì tín hiệu sẽ được truyền về máy, tại đây máy sẽ phân tích và phát ra xung điện để khử cực giúp cắt được tình trạng rối loạn nhịp tim.

Chỉ định: 

  + Suy tim NYHA II- III với thiếu máu cơ tim cục bộ trên cơ sở đã điều trị nội khoa tối ưu, phân suất tống máu thất trái <= 35% ít nhất 40 ngày sau nhồi máu cơ tim.

 + Suy tim NYHA I với thiếu máu cơ tim cục bộ đã điều trị nội khoa tối ưu, phân suất tống máu thất trái <30% ít nhất 40 ngày sau nhồi máu cơ tim.

 + Bệnh cơ tim giãn có suy tim NYHA II-III đã điều trị nội khoa tối ưu, phân suất tống máu thất trái <= 35%.

Biện pháp hỗ trợ tuần hoàn đặc biệt

Thiết bị hỗ trợ tâm thất ( VADs): đây là thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học, hoạt động như một máy bơm, giúp tâm thất tống máu tới các cơ quan trọng cơ thể.

Tế bào gốc

Đây được coi là hướng đi mới trong điều trị suy tim. Với cơ chế đưa tế bào gốc tự thân vào cơ tim để giúp chữa lành các tổn thương. Được áp dụng trong suy tim sau nhồi máu cơ tim hay bệnh cơ tim giãn. Tuy nhiên vẫn dừng ở mức nghiên cứu chứ chưa được phổ biến rỗng rãi cũng như chưa chứng minh được lợi ích trong suy tim sung huyết nặng.

Ghép tim

Đây là biện pháp cuối cùng khi bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối không còn đáp ứng với các phương pháp điều trị khác, dưới 65 tuổi và có khả năng tuân thủ điều trị chặt chẽ . Phương pháp này giúp bệnh nhân cải thiện sống còn cũng như chất lượng cuộc sống.

Chống chỉ định

+ Tăng áp động mạch phổi cố định

+ Ung thư đang tiến triển hoặc mới phát hiện dưới 5 năm

+ Bệnh lý toàn thân tiên lượng nặng

Tìm kiếm bác sĩ tư vấn trực tiếp

Để lại bình luận hoặc câu hỏi của bạn

Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận