IL- 6 – Dấu ấn cảnh báo sớm viêm cấp tính ( Phần 1: Các định nghĩa của SEPSIS)

12/07/2018

SEPSIS có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, vốn có nghĩa là mục nát, thối rữa, phân rã. Các từ điển y học Anh- Việt dịch sang tiếng Việt là: (1) sự nhiễm khuẩn của máu hay các mô; (2) nhiễm khuẩn huyết. Cách dịch 1 chuẩn xác nhưng quá dài, cách dịch 2 thì phiến diện, bởi vậy chúng tôi xin tạm giữ từ tiếng Anh ‘sepsis’.

Tại Mỹ, sepsis là nguyên nhân gây ra tử vong cho hơn 200.000 người mỗi năm, suất độ sepsis nặng và sốc nhiễm khuẩn không ngừng tăng trong 20 năm qua. Số ca bệnh hàng năm lên tới hơn 700.000 (chiếm khoảng 3/1000 dân số). Tần suất và tử vong do sepsis nặng cao hơn bệnh ung thư (Đồ thị 1).

Đồ thị 1: Tần suất và tử vong so sánh do sepsis nghiêm trọng.

Đồ thị 1: Tần suất và tử vong so sánh do sepsis nghiêm trọng.

CÁC ĐỊNH NGHĨA CỦA SEPSIS-1 (năm 1991) VÀ SEPSIS-2 (năm 2001)

Hội nghị đồng  thuận ACCP/ SCCM năm 1991 đưa  ra  định nghĩa sepsis là hội chứng đáp ứng viêm hệ thống của cơ thể ký chủ với nhiễm khuẩn (SIRS) (Bảng 1). Tình trạng viêm này có  thể  gây tổn thương cho nhiều hệ thống các tạng và nhiều chức năng (hô hấp, thần kinh, tim mạch, gan, đông máu, thận), được đặt tên là sepsis nghiêm  trọng  với  tỷ  lệ  tử vong khoảng 20%. Tình trạng này có thể tiến triển thành sốc nhiễm khuẩn, được định nghĩa là “tụt huyết áp dai dẳng khó trị dù cho được truyền dịch thích hợp”, dẫn đến tử vong cao trên dưới 50%.

Các yếu tố nguy cơ thường gặp nhất và nguy hiểm nhất là ở người già hay quá trẻ, bị suy giảm miễn dịch, ốm yếu sẵn thường phải nằm hồi sức đặc biệt, bị thương tích hay bị phỏng, mang các ống thông trong tĩnh mạch hay trong đường thở. Nếu được điều trị sớm với các kháng sinh liều lượng lớn đường tĩnh mạch thì có thể cải thiện tiên lượng bệnh.

Các định nghĩa này được chỉnh lý lại năm 2001, do một nhóm chuyên trách. Nhóm này nhận thấy các định nghĩa năm 1991 có những hạn chế, dù đã phổ biến rộng rãi bản danh sách các tiêu chuẩn chẩn đoán nhưng không đưa ra được các thay đổi vì thiếu các bằng chứng hỗ trợ. Các định nghĩa trước đây vẫn được duy trì rộng rãi không có gì thay đổi trong hơn hai thập niên qua. Các nhà lâm sàng nói chung đã không sử dụng một cách dứt khoát các tiêu chuẩn SIRS trong chẩn đoán sepsis. Trong khi đó đã có những tiến bộ to lớn về sinh học-bệnh lý, về xử trí và dịch tễ học của sepsis, gợi ý việc cần phải xem xét lại các định nghĩa này.

CÁC ĐỊNH NGHĨA CẬP NHẬT CỦA SEPSIS-3 NĂM 2016

Định nghĩa mới của Sepsis-3 được lập ra bởi Nhóm chuyên trách ESICM-SCCM năm 2016 về Định nghĩa lại sepsis. (ESICM = European Society of Intensive Care Medecine, SCCM = Society of Critical Care Medecine).

Sepsis được định nghĩa là một rối loạn chức năng của tạng đe dọa đến tính mạng do đáp ứng của ký chủ đối với nhiễm khuẩn được điều hòa kém (Bảng 2). Các nguyên nhân gây ra sepsis có thể là mọi loại nhiễm khuẩn do vi khuẩn, do siêu vi hay do nấm. Thường gặp nhất là: viêm phổi, nhiễm khuẩn bụng, nhiễm khuẩn máu. Tình trạng sepsis tăng có thể do tuổi già trên 65, các vi khuẩn kháng thuốc, các hệ miễn dịch yếu (do HIV, các điều trị ung thư, các thuốc dùng trong ghép…).

 – Để đánh giá các tiêu chuẩn lâm sàng của rối loạn chức năng tạng, người ta sử dụng bảng Đánh giá Suy Tạng [liên quan đến Sepsis] Liên tục (SOFA). Thường dùng để theo dõi tình trạng các bệnh nhân nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt.

Các điểm số trung bình cũng như cao nhất của SOFA giúp cho dự báo hậu quả. Điểm số SOFA tăng trong 24 giờ đầu đến 48 giờ tại khoa Săn sóc đặc biệt dự báo một tỷ lệ tử vong ít nhất là 50% cho đến 95%. Điểm số SOFA < 9 dự báo tỷ lệ tử vong 33% trong khi điểm số > 1 , tỷ lệ này có thể là trên dưới 95%.

– Cho các bệnh nhân nhiễm khuẩn, tăng 2 điểm trong SOFA đưa đến tỷ lệ tử vong chung là 10%.

– Các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn thường nằm lâu ở khoa Săn sóc đặc biệt hay tử vong tại bệnh viện có thể nhận biết nhanh chóng ngay tại giường với quick SOFA (qSOFA “HAT”), nghĩa là ≥ 2 các triệu chứng

– Hypotension – Hạ huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg

– Altered mental status – Trạng thái tinh thần thay đổi (mỗi GCS dưới 15)

– Tachypnoea – Thở nhanh, nhịp thở ≥ 22

Sốc nhiễm khuẩn được định nghĩa là một phân nhóm của sepsis trong đó có các bất thường về tuần hoàn và tế bào / chuyển hóa nặng đủ để gây ra tử vong tăng.

 – Các tiêu chuẩn lâm sàng của sốc nhiễm khuẩn: sepsis và (dù đã được hồi sức đủ thể tích) cả hai dấu hiệu:

 – Tụt huyết áp dai dẳng cần đến các thuốc vận mạch để duy trì Huyết áp Động mạch Trung bình ≥ 65 mmHg, và Lactate ≥ 2 mmol/L.

 – Với các tiêu chuẩn này, tỷ lệ tử vong tại bệnh viện vượt quá 40%. Có 2 điểm đáng lưu ý: (1) Sự hiện diện của  vi  khuẩn  ở  trong  máu không phải bao giờ cũng dẫn đến SIRS hay sepsis; (2) SIRS là không đặc hiệu và có thể gây ra bởi thiếu máu,  viêm,  chấn  thương,  nhiễm khuẩn, hay một số yếu tố phối hợp, do  đó  SIRS  không  phải  bao  giờ cũng liên quan đến nhiễm khuẩn. Sepsis-3 cũng không còn dùng nữa thuật  ngữ  “sepsis  nghiêm  trọng”, hiện  chỉ  đơn  giản  còn  ‘sepsis’  và ‘sốc nhiễm khuẩn’.

 

Các định nghĩa được cập nhật và các tiêu chuẩn lâm sàng mới cần được sử dụng thay thế cho các định nghĩa đã có trước đây, giúp có được độ tin cậy lớn hơn cho các nghiên cứu dịch tễ và các thử nghiệm lâm sàng, giúp cho các bệnh nhân sepsis hay có nguy cơ bị sepsis dễ được nhận biết sớm hơn và việc xử trí kịp thời hơn. Các định nghĩa cập nhật 2016 được đề nghị gọi là Sepsis-3, và của các lần 1991 và 2001 gọi là Sepsis-1 và Sepsis-2.

c thuật ngữ tiếng Anh và các từ viết tắt sử dụng trong bài:

ACCP (American College of Clinical Pharmacy), ESICM (European Society of Intensive Care Medecine), Đánh giá Suy Tạng [liên quan đến Sepsis] Liên tục (Sequential [Sepsis- related]  Organ  Failure  Assessment

– SOFA), hội chứng  đáp  ứng  viêm hệ thống của cơ thể ký chủ với nhiễm khuẩn (Systemic Inflammatory Response Syndrome – SIRS), SCCM (Society of Critical Care Medicine), sepsis nghiêm trọng (severe sepsis), sốc nhiễm khuẩn (septic shock).

CN Khuất Tuấn Anh

Trích ” Tạp chí Sống khỏe” số 15 – Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

(Visited 10 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *