Phần 2: IL – 6 Dấu ấn giúp cảnh báo sớm viêm cấp tính

13/07/2018

Sepsis có bệnh cảnh phức tạp, rất khó chẩn đoán phân biệt, diễn tiến nhanh, tỷ lệ tử vong cao, điều trị tốn kém. Nhu cầu của lâm sàng là phải chẩn đoán sớm, đánh giá được nguy cơ, giúp cải thiện quyết định điều trị / xử trí bệnh nhân và sử dụng nguồn lực hiệu quả.

Để đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của lâm sàng, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra các dấu ấn sinh học với những tiêu chí sau đây: độ nhạy cao (tăng cao khi có bệnh), độ đặc hiệu cao (không tăng khi không có bệnh), liên quan đến mức độ trầm trọng của bệnh, thay đổi theo diễn tiến lâm sàng, dự báo trước những biến đổi lâm sàng, cho biết thêm thông tin độc lập về tiên lượng nguy cơ, dễ dàng thực hiện trong lâm sàng.

Hiện nay, người ta đã tìm ra trên 100 dấu ấn sinh học có liên quan đến nhiễm trùng và nhiễm khuẩn huyết như: IL-6, IL-10,TNF-α, PCT, CRP… trong đó

Interleukin-6 (IL-6) nổi lên là dấu ấn sinh học sớm của phản ứng viêm, nhiễm trùng và sepsis. Nó giải phóng nhanh sau đáp ứng với chấn thương các mô và sự thay đổi so với mức nền báo hiệu biến chứng nặng.

Các tế bào sản xuất ra IL-6 và các tác động của IL-6 trong cơ thể

Hình1: Các tế bào sản xuất ra IL-6 và các tác động của IL-6 trong cơ thể. (CRP = C-reactive protein, SAA = serum amyloid A protein)

IL-6 được mô tả lần đầu tiên dưới dạng interferon-β2, một yếu tố tăng trưởng u tương bào và kích thích tế bào gan. Sau đó, nó được mô tả là yếu tố kích thích tế bào B (B Cell Stimulatory Factor 2 – BSF2).

Năm 1988, nó được đề nghị đặt tên là IL-6 vì những nghiên cứu sâu hơn chỉ ra rằng nó không chỉ tác động lên tế bào B, mà còn tác động lên tế bào T, tế bào gốc tạo máu, tế bào gan… IL-6 được sản xuất từ một gen đơn, gen này mã hóa một protein gồm 212 acid amin và được tách ra ở đầu tận cùng N tạo ra một peptide gồm 184 acid amin có trọng lượng phân tử khoảng 22-27 kDa.

IL-6 truyền tín hiệu thông qua thụ thể trên màng tế bào hay thụ thể hòa tan. Thụ thể trên màng tế bào (mIL-6R) chỉ gặp ở một số loại tế bào. Thụ thể hòa tan (sIL-6R) giúp IL-6 gắn với tế bào không có thụ thể mIL-6R bằng cách tạo thành phức hợp với glycoprotein (gp130). Cả IL-6/mIL-6R cũng như phức hợp IL-6/sIL-6R đều tương tác với gp130 bộc lộ trên màng tế bào kích hoạt hệ thống truyền tín hiệu.

Cơ chế truyền tín hiệu của IL-6.

Hình 2: Cơ chế truyền tín hiệu của IL-6.

IL-6 xuất hiện sớm hơn so với các dấu ấn sinh học khác

Đồ thị 2: Động học của IL-6 so với PCT và CRP.

Hiện nay, tại khoa Xét nghiệm bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM đang triển khai thực hiện xét nghiệm định lượng IL-6 trong huyết thanh/huyết tương trên hệ thống máy  cobas  c602  của  hãng  Roche.  Đây là xét nghiệm miễn dịch điện hóa phát quang (Electro-chemiluminescence immunoassay – ECLIA) để định lượng  trong  ống  nghiệm  calcitonin  của người (human calcitonin  –  hCT)  trong  huyết  thanh và huyết tương theo nguyên lý bắt  cặp  với  thời gian  xét  nghiệm  18  phút.

Một nghiên cứu trên 817 người khỏe mạnh, xác định được khoảng tham chiếu sinh học đến 7 pg/mL (phân vị thứ 95). IL-6 tăng theo tuổi nhưng sự khác biệt này không quan trọng về mặt lâm sàng do giá trị IL-6 trong trường hợp bệnh lý lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn pg/mL.

Khi sử dụng IL-6, chúng ta cần lưu ý: tiến hành xét nghiệm mức ban đầu tại thời điểm nhập viện và ngay sau khi phẫu thuật hoặc sang chấn. Mức nền IL-6 dao động phụ thuộc mức tổn thương, thuốc, bệnh đồng mắc. Động học của IL-6 so với mức nền quan trọng hơn giá trị nền. IL-6 nên được diễn giải theo bệnh cảnh lâm sàng cùng thông số và phương pháp khác, không thể thay cho các công cụ khác. Nồng độ IL-6 giảm nhanh về mức nền trong 2–4 ngày được đánh giá tiên lượng tốt. Nồng độ IL-6 tiếp tục tăng, báo hiệu biến chứng.

CN Khuất Tuấn Anh

Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

(Visited 8 times, 1 visits today)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *